|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 04/2025/DS-ST Ngày: 28/02/2025 V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hiên
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thịnh
Thư ký phiên tòa: Ông Mai Như Chi
Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 180/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phạm Thái S, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt tại phiên tòa, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Trương Thị Gái L, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn B, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn trình bày: Vào ngày 19/7/2022, bà Trương Thị Gái L có vay của ông Nguyễn Phạm Thái S số tiền 200.000.000 đồng, mục đích để nuôi tôm hùm, thời hạn vay là 2 năm kể từ ngày 19/7/2022, lãi suất vay là 1%/tháng. Trả tiền lãi vào ngày 19 dương lịch hàng tháng; để bảo đảm cho hợp đồng vay tiền bà L đã thế chấp cho ông S một quyền sử dụng đất là thửa đất số 25, tờ bản đồ số 20, diện tích 106,4m² đã được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BV412583, số vào sổ cấp GCN CH10449 ngày 23/8/2016 cho bà Trương Thị Gái L. Hợp đồng này được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 8199, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/7/2022.
Đến ngày 19/7/2024 là hết thời hạn vay 02 năm trong hợp đồng nhưng bà L không trả tiền vay gốc và lãi cho ông S.
Nay ông Nguyễn Phạm Thái S khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị Gái L phải trả cho ông S một lần toàn bộ số tiền vay là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và lãi suất là 1%/tháng kể từ ngày 19/7/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, cụ thể: 31 tháng x 1%/tháng x 200.000.000 đồng là 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng).
* Bị đơn trình bày: Bà Trương Thị Gái L thừa nhận có vay của ông Nguyễn Phạm Thái S (con của bà Phạm Thị H) số tiền vay là 200.000.0000 đồng. Bà L đồng ý trả nợ gốc cho nguyên đơn nhưng không đồng ý trả lãi vì bà đã trả nhiều, mỗi lần trả tiền lãi bà đều đưa cho nguyên đơn nhưng không viết giấy nhận tiền, bà cũng không có tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc bà trả tiền lãi cho nguyên đơn. Bà yêu cầu nguyên đơn phải trả lại cho bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà nguyên đơn đang giữ của bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, do bị đơn cư trú tại thành phố C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về hợp đồng vay tiền: Căn cứ vào “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” lập ngày 19/7/2022 do nguyên đơn cung cấp và bị đơn cũng đã thừa nhận số nợ đối với nguyên đơn nên có cơ sở xác định: Vào ngày 19/7/2022 ông Nguyễn Phạm Thái S có cho bà Trương Thị Gái L vay số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), hai bên thỏa thuận lãi suất là 1%/tháng, thời hạn vay là 02 tháng kể từ ngày vay. Hợp đồng này được công chứng tại văn phòng C, số công chúng 8199, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/7/2022.
Nguyên đơn cho rằng bị đơn đã không thực hiện đúng cam kết về thời gian trả nợ. Nay nguyên đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh yêu cầu bị đơn ông bà Trương Thị Gái L phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ thời điểm vay ngày 19/7/2022 đến ngày xét xử.
Hội đồng xét xử xét thấy: Việc vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, bà Trương Thị Gái L không thực hiện đúng cam kết trả nợ đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; Từ đó xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả khoản nợ gốc 200.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp với các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự nên có căn cứ để chấp nhận.
[2.2] Về tiền lãi: Theo “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” lập ngày 19/7/2022 tại Văn phòng C; lãi suất do các bên thỏa thuận là 1%/tháng, không trái với quy định pháp luật. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bà L phải trả lãi đối với số tiền gốc 200.000.000 đồng từ tháng ngày 19/7/2022 đến khi xét xử lãi suất 1%/tháng, cụ thể: 31 tháng x 1%/tháng x 200.000.000 đồng là 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng). Bà L không đồng ý trả tiền lãi cho nguyên đơn vì cho rằng đã trả tiền lãi nhiều lần nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc trả lãi trên. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 468 và Điều 470 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn bà L phải trả cho nguyên đơn ông S tiền nợ lãi là 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng).
[2.3] Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BV412583, số vào sổ cấp GCN: CH10449 đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 20, diện tích 106,4m² tọa lạc tại thôn B, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho bà Trương Thị Gái L ngày 23/8/2016. Bà L yêu cầu nguyên đơn phải trả lại cho bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Xét thấy: Việc bà L thế chấp cho ông S giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là không đúng theo quy định pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất. Do đó, nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên.
[3] Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 26, 35, 39, 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Các Điều 463, 466; 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Các Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn bà Trương Thị Gái L phải trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Phạm Thái S số tiền là: 262.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi hai triệu đồng); Trong đó T gốc: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và tiền lãi là 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng).
- Ông Nguyễn Phạm Thái S phải trả lại cho bà Trương Thị Gái L 01 (Một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CV412583, số vào sổ cấp GCN: CH10449 đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 20, diện tích 106,4m² tọa lạc tại thôn B, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho bà Trương Thị Gái L ngày 23/8/2016.
- Án phí: Bị đơn bà Trương Thị Gái L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.100.000 đồng (Mười ba triệu một trăm nghìn đồng).
H1 lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Phạm Thái S số tiền tạm ứng án phí là 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004882 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thờihạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải trả thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Ngọc Hiên |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Đại Hải Lê Xuân H2 |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc H3 |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
