TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG *** | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 04/2025/DS- ST
Ngày 25/2/2025
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bạn
Bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 2 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2024/TLST - DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị P, sinh năm 1992
- Địa chỉ: Khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971
- Địa chỉ: Khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Chị P, bà L đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn trình bày:
Chị và bà L là người quen biết, đều ở cùng phường H. Ngày 26/5/2023, chị có cho bà L vay số tiền 100.000.000đồng để bà L trả nợ cho cháu là anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1980 ở khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Khi vay, giữa chị và bà L có thiết lập 01 vi bằng và 01 hợp đồng vay tiền, cụ thể hai bên thỏa thuận chị P cho bà L vay số tiền gốc 100.000.000đồng, lãi suất là 1,6%/tháng, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 26/5/2023. Nguồn gốc số tiền chị cho bà L vay là tiền riêng của chị, không liên quan đến chồng chị là anh Nguyễn Văn T. Chị xác định khoản tiền này cho riêng bà L vay, không liên quan đến chồng, con bà L. Từ khi vay, bà L có trả lãi chị 4 tháng đầu, sau đó không trả, mặc dù chị có đòi nhiều lần nhưng bà L không nghe điện, tránh mặt chị. Nay chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh buộc bà L phải trả chị số tiền gốc là 100.000.000đồng(Một trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ tháng 10 năm 2024 đến ngày 25/02/2025 là 19.201.000đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập bà L nhưng bà L không đến Tòa án, không trình bày quan điểm ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại vi bằng số 586/2023/VB-TPLSĐ được lập tại văn phòng T1 ngày 26/5/2023 ghi nhận buổi làm việc giữa chị P và bà L. Trong đó, bà L thể hiện quan điểm: “Hôm nay, ngày 26/5/2023, tôi có thỏa thuận vay của bà Bùi Thị P số tiền 100.000.000đồng trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 26/5/2023 đến hết ngày 26/5/2024 với lãi suất 1,6%/tháng. Để làm căn cứ thực hiện, hai bên đã cùng thống nhất xác lập Hợp đồng vay tiền ngày 26/5/2023. Tôi xác nhận tôi đã nhận đầy đủ số tiền 100.000.000đồng do bà P giao. Tôi hoàn toàn tự nguyện tham gia xác lập Hợp đồng vay tiền ngày 26/5/2023 nêu trên. Tôi cam kết sẽ thực hiện đúng và đầy đủ những nội dung mà hai bên đã thống nhất trong Hợp đồng vay tiền trên, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt. Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả số tiền gốc là 100.000.000đồng và tiền lãi tính đến ngày 25/02/2025 là 19.201.000đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; điểm a khoản 1 Điều 238 BLTTDS. Các Điều 357; Điều 463; Điều 466 của BLDS. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.
Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho chị Bùi Thị P số tiền 100.000.000đồng(Một trăm triệu đồng chẵn) và tiền lãi đến ngày 25/02/2025 là 19.201.000đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanht oán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng vào số tiền và thời gian chậm trả. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả chị Bùi Thị P số tiền đã nộp tạm ứng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định.
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Thị L có nơi thường trú tại khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Về quan hệ pháp luật: Chị P cho bà L vay tiền vào năm 2023, vay trong thời hạn 12 tháng nên xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 BLDS.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị P, bà L. Tại phiên tòa, chị P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bà L vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt chị P và bà L.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về số nợ gốc:
Ngày 26/5/2023, chị P và bà L có thỏa thuận về việc vay nợ tiền, cụ thể chị P cho bà L vay số tiền gốc 100.000.000đồng. Hai bên có thiết lập hợp đồng vay tài sản, trong đó có thỏa thuận lãi suất 1,6%/tháng và thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 26/5/2023 đến ngày 26/5/2024. Ngoài hợp đồng vay tài sản, chị P và bà L còn thiết lập vi bằng số 586/2023/VB-TPLSĐ vào ngày 26/5/2023 có hợp đồng vay tiền, hình ảnh lưu kèm Vi bằng nên xác định việc vay nợ của bà L đối với chị P là có thật.
Đây là hợp đồng vay tài sản có lãi suất và có thời hạn. Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng đều đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện, đảm bảo quy định của pháp luật nên là hợp đồng hợp pháp. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L chỉ trả lãi được 4 tháng, sau đó không trả nữa và chưa trả khoản tiền gốc nào. Đến thời hạn trả tiền, bà L không trả chị P số tiền đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của người vay. Do đó, chị P khởi kiện yêu cầu bà L trả số tiền 100.000.000đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P.
[2.2]. Về số tiền lãi:
Lần cuối cùng, bà L trả nợ lãi cho chị P vào tháng 9 năm 2023, từ đó không trả nữa nên xác định bà L phải trả lãi suất cho cho chị P trên khoản nợ gốc là 100.000.000đồng. Chị P yêu cầu bà L phải trả lãi tính từ tháng 10 năm 2023 đến ngày 26/5/2024 là 8 tháng của số tiền 100.000.000đồng, với lãi suất 1,6%/tháng và lãi suất từ tháng 6 năm 2024 đến ngày 25/02/2025 là 9 tháng của số tiền gốc 100.000.000đồng, với lãi suất là 1%/tháng. Hội đồng xét xử xác định hợp đồng vay tài sản giữa chị P và bà L là hợp đồng có thời hạn 12 tháng, có thỏa thuận lãi suất là 1,6%/tháng, tương đương 19,2%/năm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan...”. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất theo thỏa thuận của chị P và bà L tại hợp đồng vay tài sản từ tháng 10 năm 2023 đến ngày 26/5/2024.
Đối với thời gian từ tháng 6 năm 2024 đến ngày 25/02/2025 là 9 tháng, chị P yêu cầu bà L trả lãi đối với số tiền gốc 100.000.000đồng là 1%/tháng. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 468, Điều 470 BLDS và tiểu mục a.1 mục 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2029/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cụ thể: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ mức lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tại thời điểm trả”, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P, buộc bà L phải trả số tiền lãi được tính từng thời điểm cụ thể như sau:
Từ ngày 01/10/2023 đến ngày 26/5/2024: Số tiền gốc tính lãi 100.000.000 đồng, lãi suất 19,2%/năm, số ngày tính lãi 240 ngày bằng: [(100.000.000 x 19,2%/năm)/365 ngày] x 240 ngày = 12.625.000đồng(đã làm tròn số).
Từ ngày 27/5/2024 đến ngày 25/02/2025: Số tiền gốc tính lãi 100.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, số ngày tính lãi 268 ngày bằng: [(100.000.000 x 10%/năm)/365 ngày] x 268 ngày = 6.576.000đồng(đã làm tròn số).
Cộng lãi suất bằng 19.201.000đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi là 119.201.000đồng(Một trăm hai mươi năm triệu năm trăm mười hai nghìn đồng).
[2.3]. Về thời hạn trả nợ: Chị P yêu cầu bà L phải trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu của chị P.
[3]. Về án phí:
Căn cứ Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, nộp án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu khởi kiện của chị P được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238 BLTTDS. Các Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 BLDS. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.
Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho chị Bùi Thị P tổng số tiền 119.201.000đồng(Một trăm hai mươi năm triệu năm trăm mười hai nghìn đồng), trong đó nợ gốc 100.000.000đồng và lãi suất là 19.201.000đồng.
Kể từ ngày 26/02/2025, nếu bà L không thi hành khoản nợ hoặc thi hành không đầy đủ thì bà L còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng vay tài sản cho đến khi thi hành xong tương ứng với thời gian và số tiền gốc chậm thi hành án.
Về án phí: Trả lại cho chị Bùi Thị P số tiền 2.980.000đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00004242 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 5.960.050đồng.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Thị Thu Hương |
Bản án số 04/2025/DS- ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 04/2025/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Bùi Thị P tranh chấp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Thị L
