|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 25/02/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Việt Hồng và bà Trần Thị Hương Ly.
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vân và ông Đặng Văn Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 24/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 11/02/2025, đối với bị cáo:
Hoàng Kim C, tên gọi khác: không; sinh ngày 22/12/1981, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H và bà Dương Thị C1; có vợ thứ nhất là Lý Thị L, đã ly hôn; vợ thứ hai: Triệu Thị K, có 03 con.
- Tiền án: 01.
+ Tại bản án HSST số 30 ngày 08/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Hủy hoại rừng”, 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 45 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2012, chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự.
- Nhân thân: 06.
+ Tại Quyết định số 194 ngày 29/10/2020 của Công an xã N, huyện V, xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”.
+ Tại Quyết định số 0103169 ngày 19/01/2021 của Công an xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
+ Tại Quyết định số 0103176 ngày 23/3/2021 của Công an xã N, huyện V xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khoẻ của thành viên gia đình”.
+ Tại Quyết định số 54 ngày 17/10/2022 của Công an huyện V, xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Chưa chấp hành phần phạt tiền
+ Tại Bản án HSST số 69 ngày 30/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/3/2015, thi hành xong án phí ngày 10/6/2015.
+ Tại Quyết định số 9349 ngày 10/3/2017 của Công an huyện V xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khoẻ của người khác”. Nộp phạt ngày 10/3/2017.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thúy H1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt
- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên; người đại diện theo pháp luật: bà Bùi Thị S - Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng S1 - Phó Trưởng phòng Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện V, có đơn đề nghị xử vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn C2, sinh năm 1982; Quê quán: xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; HKTT: Thôn C, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nơi ở hiện tại: tổ G, ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; có đơn đề nghị xử vắng mặt;
- Người làm chứng:
- Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1960;
- Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1983;
- Bà Dương Thị C1, sinh năm 1962;
- Chị Bàn Thị N, sinh năm 1993;
- Anh Hoàng Kim L1, sinh năm 1982;
- Bà Bàn Thị Q, sinh năm 1964;
- Bà Bàn Thị D, sinh năm 1973;
Cùng nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
(Những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2007 Ủy ban nhân dân xã N, huyện V giao cho anh Hoàng Văn C2 quản lý, bảo vệ 341.828m² đất có rừng tự nhiên phòng hộ thuộc thửa 141, tờ bản đồ số 1 bản đồ địa chính lâm nghiệp xã N năm 2007 nay thuộc lô B, khoảng 8B, tiểu khu G Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã N năm 2023. Tuy nhiên sau khi được giao anh C2 không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2008 anh cùng gia đình chuyển đến tỉnh Đồng Nai sinh sống, do vậy diện tích đất rừng trên chưa có người quản lý.
Tháng 11 năm 2022 do cần diện tích đất rừng để trồng cây Q1 phát triển kinh tế gia đình, nên Hoàng Kim C đã lấy 01 con dao và mượn 01 chiếc cưa máy rồi mang đến thửa đất rừng nêu trên phát cây bụi, dây leo và cắt hạ 70 cây gỗ tự nhiên có khối lượng 4,958m³. Sau đó, C đốt thực bì và trồng khoảng 2000 cây Q1. Đối với số gỗ sau khi chặt hạ, C cho anh Hoàng Văn H2 các cành, nhánh để anh H2 mang về nhà làm củi đun.
Ngày 15/5/2023 Ủy ban nhân dân xã N phối hợp cùng Trạm Kiểm lâm xã Cúc Đường tiến hành kiểm tra, phát hiện tại lô 2, khoảng 8B, tiểu khu G, trạng thái rừng tự nhiên quy hoạch rừng phòng hộ, có diện tích bị phát phá là 2.800m²; số gốc chặt là 69 gốc có đường kính từ 10 - 30cm là loài cây gỗ thông thường, từ nhóm III đến nhóm VIII (có bảng kê kèm theo); số khúc gỗ ở hiện trường là 131 khúc, có khối lượng là 4,958m³ (có bảng kê kèm theo). Tổ công tác đã lập biên bản và chuyển hồ sơ vụ việc đến Hạt kiểm lâm huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 06/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện V, Viện nghiên cứu và phát triển nhiệt đới và các cơ quan chức năng, tiến hành khám nghiệm hiện trường, kiểm kê lâm sản và thu giữ mẫu vật giám định, cụ thể: Hiện trường nơi xảy ra vụ việc thuộc lô 2, khoảng 8B, tiểu khu G Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng đất lâm nghiệp xã N năm 2013, diện tích lô là 120ha, trạng thái rừng ghi trên bản đồ là IIB, quy hoạch rừng phòng hộ. Đối chiếu với Bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã N đo vẽ năm 2007, tờ bản đồ số 1, hiện trạng chặt phá rừng thuộc thửa đất số 141, diện tích thửa 341.828m² loạt đất có rừng tự nhiên phòng hộ, ghi tên sử dụng là Hoàng Văn C2. Tổng số gốc cây bị chặt là 70 gốc (kích thước mỗi gốc có bảng kê kèm theo). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu thập mẫu gỗ từ 70 gốc cây trên để làm mẫu vật gửi giám định.
Toàn bộ 131 khúc gỗ bị Hoàng Kim C cắt hạ, sau khi khám nghiệm do chưa thể vận chuyển vẫn để tại hiện trường, ngày 27/8/2023 trời mưa nước lũ đã cuốn trôi theo khe suối xuống hạ nguồn, nên chị Bàn Thị N đã vớt mang về nhà. Sau khi biết nội dung vụ việc ngày 28/8/2023 chị N đã giao nộp toàn bộ số 131 khúc gỗ có tổng khối lượng 4,958m³ cho Hạt Kiểm lâm huyện V.
Tại bản kết luận giám định số 330 ngày 29/12/2023 của V nhiệt đới – Liên hiệp các hội K1 kết luận:
+ Diện tích bị chặt phá tại lô B, khoảng 8B, tiểu khu G, xóm T, xã N, huyện V, hiện trạng rừng trước thời điểm bị chặt phá là rừng tự nhiên thuộc quy hoạch rừng phòng hộ.
+ Diện tích bị chặt phá: 4.980 m².
+ Khối lượng của 70 cây gỗ đã bị chặt hạ bao gồm 131 khúc gỗ tại hiện trường là 4,958m³.
+ Loại gỗ, nhóm gỗ bị chặt: thuộc 12 loài, thuộc các nhóm từ nhóm III đến nhóm VIII, đều là các loài thực vật thông thường không có tên trong sách đỏ Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm, bị đe doạ tuyệt chủng.
+ Chưa đủ căn cứ khoa học cho cơ quan giám định kết luận về: Thiệt hại về mức độ ô nhiễm môi trường.
Tại văn bản số 152 ngày 10/6/2024 của V nhiệt đới - Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam giải thích sự chênh lệch phần diện tích rừng bị chặt phá giữa bản kết luận giám định so với diện tích được thể hiện trong biên bản kiểm tra của Trạm kiểm lâm xã C thuộc Hạt kiểm lâm huyện V lập ngày 15/5/2023, có nội dung: Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06/7/2023 V Nhiệt đới thực hiện đo vẽ bằng phương pháp sử dụng các thiết bị bay/chụp vẽ viễn thám - GIS và thực hiện số hoá, khoanh vẽ diện tích chặt phá rừng, kết quả xác định diện tích chặt phá kèm theo bản đồ chụp khu vực, kết luận diện tích rừng bị huỷ hoại là 4.980m². Do phương pháp sử dụng để xác định diện tích là khác nhau, việc xác định phạm vi, ranh giới diện tích giữa hai phương pháp khác nhau nên dẫn đến kết quả đo khác nhau. Viện khẳng định kết quả giám định là chính xác, việc giám định được thực hiện khách quan, đúng quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định bổ sung số 228 ngày 30/7/2024 của V nhiệt đới - Liên hiệp các hội K1 kết luận: Cụ thể 131 mẫu gỗ gửi giám định thuộc 12 loài từ nhóm V đến nhóm VIII (có danh sách kèm theo).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 22 ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận:
+ Gỗ thuộc nhóm V, có khối lượng 1,203m³, có tổng giá trị là 2.574.320 đồng
+ Gỗ thuộc nhóm VI, có khối lượng 1,356m³, có tổng giá trị là 2.454.828 đồng
+ Gỗ thuộc nhóm VII, có khối lượng 1,414m³, có tổng giá trị là 1.492.977 đồng
+ Gỗ thuộc nhóm VIII, có khối lượng 0,985m³, có tổng giá trị là 4.882.009 đồng
Tổng giá trị các loại gỗ là 11.404.134 đồng
Vật chứng của vụ án:
+ 01 con dao quắm, chuôi gỗ, dài khoảng 50cm Hoàng Kim C sử dụng để chặt, phát cây gỗ rừng, do con dao sử dụng lâu, đã bị cùn nên C đã bỏ đi và không nhớ cụ thể ở đâu, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
+ 02 hộp niêm phong kín ký hiệu B1 và B2 (bên trong có 70 mẫu gỗ) và 131 khúc gỗ có khối lượng 4,958m³, nhóm gỗ: Từ nhóm V đến nhóm VIII hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự UBND huyện V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có đề nghị gì.
Cáo trạng số 06/CT-VKSVN ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Hoàng Kim C về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Kim C phạm tội “Hủy hoại rừng”;
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Kim C từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 hộp niêm phong kín ký hiệu B1 và B2 (bên trong có 70 mẫu gỗ) và 131 khúc gỗ có khối lượng 4,958m³.
- Về án phí: miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo trình bày bản luận cứ bào chữa: Nhất trí với tội danh, điều luật như nội dung Bản cáo trạng truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, hoàn cảnh sinh sống, trình độ nhận thức của bị cáo xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Do cần đất rừng để trồng cây phát triển kinh tế gia đình, tháng 11 năm 2022 tại lô 2, khoảng 8B, tiểu khu G Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã N, huyện V năm 2013, Hoàng Kim C không được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép khai thác, đã có hành vi dùng dao, cưa máy hủy hoại 4.980m² đất rừng tự nhiên quy hoạch rừng phòng hộ, với khối lượng gỗ bị chặt hạ là 4,958m³ thuộc loài thực vật thông thường có giá trị là 11.404.134 đồng.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản kiểm tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Hoàng Kim C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Điều 243 Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m²) đến dưới 7.000 mét vuông (m²);...”
[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án cùng về tội Hủy hoại rừng chưa được xóa án tích, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm khác nhau thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: xét thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có tài sản gì riêng có giá trị, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự là Ủy ban nhân dân huyện V không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[9] Về vật chứng của vụ án:
- 02 hộp niêm phong kín ký hiệu B1 và B2 (bên trong có 70 mẫu gỗ) không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
- 131 khúc gỗ có khối lượng 4,958m³, nhóm gỗ: Từ nhóm V đến nhóm VIII, hiện toàn bộ số gỗ đã bị mục nát, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về các vấn đề khác:
Đối với anh Hoàng Văn C2, là người được Ủy ban nhân dân xã N giao quản lý diện tích đất rừng trên. Tuy nhiên sau đó Anh chuyển vào tỉnh Đồng Nai sinh sống, không làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình điều tra xác định A không biết và không được bàn bạc với Hoàng Kim C việc hủy hoại diện tích nêu trên, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp.
Đối với người nam giới cho C mượn chiếc cưa máy để C sử dụng cắt cây gỗ rừng, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với anh Hoàng Văn H2 và chị Bàn Thị N, quá trình điều tra xác định anh H2 và chị N không biết số củi và gỗ đó do Hoàng Kim C phạm tội mà có. Nên Cơ quan điều tra không đề cập, xử lý là phù hợp.
[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai về áp dụng pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Kim C phạm tội “Hủy hoại rừng”;
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Kim C 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2024.
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiện dân sự: không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 02 hộp niêm phong kín ký hiệu B1 và B2 (bên trong có 70 mẫu gỗ) và 131 khúc gỗ có khối lượng 4,958m³, nhóm gỗ: Từ nhóm V đến nhóm VIII.
Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 13 ngày 15/01/2025 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Công an huyện V, Hạt Kiểm lâm V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hủy hoại rừng
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Kim Chính
