|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 24 - 02 -2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Giới
2. Ông Vũ Trung Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Minh - Kiểm sát viên
Ngày 24/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 22/01/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 03/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:
Trần Đình Q, sinh năm 2003 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình V (đã chết) và bà Đặng Thị N, sinh năm 1980; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Anh Hoàng Xuân L, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962 (Có yêu cầu vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn F, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Bà Đặng Thị N, sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 04/10/2024, Hoàng Xuân L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đen, biển kiểm soát 93M1 – 148.61 đến nhà nghỉ T3 thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện Đ do Phan Thị Lan T làm chủ thuê phòng số 05 để nghỉ qua đêm. Trước khi vào phòng, L dựng xe mô tô ngoài hành lang nhưng quên không cất chìa khóa xe. Lúc này, Trần Đình Q cùng bạn gái là H3 đi xe taxi đến nhà nghỉ T3 thuê phòng số 07 để nghỉ qua đêm. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, Quang thức dậy thì phát hiện xe mô tô BKS 93M1 – 148.61 có sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, Q về phòng rủ B lấy trộm xe mô tô nhưng B không đồng ý mà bỏ đi khỏi nhà nghỉ T3. Sau đó, Q lén lút lấy trộm xe mô tô BKS 93M1 – 148.61 rồi điều khiển về hướng thành phố Đ thì thấy B đang đi bộ nên dừng xe, chở B đến nhà Đỗ Văn Đ tại thôn C, xã N, huyện B chơi. Do không còn tiền tiêu xài nên Q cầm xe mô tô BKS 93M1 – 148.61 cho Đ với giá 2.000.000đ. Sau khi ngủ dậy, L phát hiện xe mô tô bị mất nên đã đến cơ quan Công an trình báo.
Ngoài thực hiện hành vi như trên, ngày 12/9/2024, Q còn lấy trộm 01 xe đạp điện của bà Nguyễn Thị H tại nghà nghỉ H1 thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện Đ rồi cầm cố cho T1 Công Lực, ngụ tại ấp T, xã T, huyện Đ với số tiền 500.000đ. Do không thấy Q quay lại chuộc xe đạp điện nên L1 đã bán xe đạp điện cho người đàn ông (không rõ lai lịch) tại thị xã B, tỉnh Bình Phước được số tiền 2.200.000₫.
Quá trình điều tra, Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Theo Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 93 M1-148.61, hiệu Honda, loại Air Blade màu đen trị giá 18.000.000₫.
Theo Kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: 01 xe đạp điện nhãn hiệu Draca trị giá 1.200.000đ.
Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 21/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Đình Q mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tuyên buộc bị cáo Trần Đình Q có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền 1.200.000đ và anh Đỗ Văn Đại số tiền 2.000.000₫.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà Đặng Thị N 01 điện thoại di động Iphone XS Mas màu đen; Tịch thu, tiêu huỷ 01 áo thun loại ngắn tay màu đen, 01 quần dài, loại quần tây màu xanh và 01 đôi dép da màu nâu- đen.
Bị cáo không tranh luận, không kêu oan; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Trần Đình Q cùng bạn gái là H Quỳnh Nhi Bdap đi xe taxi đến nhà nghỉ T3 thuê phòng số 07 để nghỉ qua đêm. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, sau khi thức dậy Q phát hiện xe mô tô BKS 93M1 – 148.61 có sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài nên Q về phòng rủ B lấy trộm xe mô tô nhưng B không đồng ý mà bỏ đi khỏi nhà nghỉ T3. Sau đó, Q lén lút lấy trộm xe mô tô BKS 93M1 – 148.61 điều khiển đến nhà anh Đỗ Văn Đ tại thôn C, xã N, huyện B chơi. Do không còn tiền tiêu xài nên Q cầm xe mô tô BKS 93M1 – 148.61 cho Đ với giá 2.000.000đ, số tiền có được Q đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài ra, ngày 12/9/2024, Q còn lấy trộm 01 xe đạp điện của bà Nguyễn Thị H tại nghà nghỉ H1 thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện Đ rồi cầm cố cho T1 Công Lực với số tiền 500.000đ. Do không thấy Q quay lại chuộc xe đạp điện nên L1 đã bán xe đạp điện cho người đàn ông (không rõ lai lịch) tại thị xã B, tỉnh Bình Phước được số tiền 2.200.000đ.
Theo Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 93M1-148.61, hiệu Honda, loại Air Blade màu đen trị giá 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).
Theo Kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: 01 xe đạp điện nhãn hiệu Draca màu trắng trị giá 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 18.000.000đ của bị cáo Trần Đình Q có đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự ra trước phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với hành vi lén lút chiếm đoạt xe đạp điện nhãn hiệu Draca, màu trắng của bà Nguyễn Thị H với giá trị 1.200.000đ vào ngày 13/09/2024 của Trần Đình Q chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 01/10/2024 đã được Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Đỗ Văn Đ, Tăng Công L1 là người cầm xe của bị cáo Trần Đình Q: Tại thời điểm mua xe thì anh Đ, anh L1 không biết nguồn gốc chiếc xe là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.
[3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo đã thành niên, đang trong độ tuổi lao động, bị cáo có thể tự tìm kiếm cho mình một công việc phù hợp với năng lực và sức khỏe để mang lại thu nhập hợp pháp; bị cáo cũng hoàn toàn nhận thức được chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất và hậu quả mà hành vi của bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục, để bị cáo có thời gian học tập cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và mục đích phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS Mas màu đen là tài sản hợp pháp của bà Đặng Thị N không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bà N.
Đối với 01 áo thun loại ngắn tay màu đen, 01 quần dài, loại quần tây màu xanh và 01 đôi dép da màu nâu- đen là tài sản hợp pháp của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với các vật chứng khác, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã xử lý đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.200.000đ, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phiên toà, bị cáo cũng tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Đỗ Văn Đ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.
[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Đình Q phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Đình Q 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Đình Q.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật dân sự 2015
Buộc bị cáo Trần Đình Q phải bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Buộc bị cáo Trần Đình Q phải bồi thường thiệt hại cho anh Đỗ Văn Đại số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Trả lại cho bà Đặng Thị N 01 điện thoại di động Iphone XS Mas màu đen;
Tịch thu, tiêu huỷ 01 áo thun loại ngắn tay màu đen, 01 quần dài, loại quần tây màu xanh và 01 đôi dép da màu nâu- đen.
- Về án phí:
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Trần Đình Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Đối với bị hại Hoàng Xuân L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H, Đỗ Văn Đ do vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo bản án tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Đình Q- Trộm cắp tài sản
