Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày: 20-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Văn Vĩ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn .

Bà Nguyễn Thị Công Mừng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Chinh, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 156/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 20224 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 20225 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Văn K, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1977; Tên gọi khác: Không; Quê quán: Huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Văn X (đã chết) và bà Đặng Thị G; Có vợ là Hoàng Thị H (đã ly hôn), có hai con: Con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2010; Gia đình có 8 anh chị em bị cáo là thứ tám.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 19/01/2007 của Trưởng Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt Chu Văn K 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa”. Ngày 24/01/2007 Chu Văn K đã chấp hành xong.
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000037/QĐ-XPHC ngày 24/9/2012 của Trưởng Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Chu Văn K 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Tính đến ngày xảy ra sự việc ngày 24/3/2024 K chưa chấp hành xong.
  • Tại Bản án số 20/2014/HS-ST ngày 30/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Chu Văn K 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngày 30/6/2014 K đã chấp hành xong tiền án phí. Tính đến ngày xảy ra sự việc ngày 24/3/2024, K đã được xóa án tích.

Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Đến ngày 13/11/2024 Chu Văn K bị tạm giam theo Lệnh tạm giam số 287 ngày 13/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn về tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn (Có mặt tại phiên toà).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1977 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Anh Vi Văn T, sinh năm 1980 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn Đồng Mậm, xã Sơn Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
  3. Anh Vi Văn T1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  4. Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1984 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  5. Chị Hoàng Thị T3, sinh năm 1979 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  6. Chị Trần Thị K1, sinh năm 1976 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  7. Anh Vi Văn S, sinh năm 1975 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/3/2024, phòng C1 Công an tỉnh B tổ chức lực lượng tuần tra khu vực hồ C thuộc địa phận xã C và xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang, phát hiện tại khu vực lòng hồ C thuộc thôn A, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang có đối tượng Nguyễn Văn Q đang đỗ xe ô tô, loại xe 16 chỗ, nhãn hiệu Ford Transit, biển kiểm soát 98B-038.61 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện trên xe có các đồ vật, cụ thể:

  • 01 (một) túi xách màu đen, có chữ “Calotiy Kione", bên trong có 09 (chín) điện thoại di động, bao gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 358780101025877, số IMEI 2: 358781101025875; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862892052307094, IMEI 2: 862892052307086; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu vàng, đã qua sử dụng lắp sim 1 có số seri: 89840200011634824781, hiển thị số điện thoại 0834.932.xxx; sim 2 có số seri: 8984048851000971179, hiển thị số điện thoại 0964.057.xxx; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max, màu xanh đã qua sử dụng lắp sim có số seri: 8984048000303305176, hiển thị số điện thoại 0966.368.xxx; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6, màu hồng đã qua sử dụng, số IMEI: 355314085312995; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862765050917256, IMEI 2: 862765050917249; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, tại mặt sau điện thoại có hiển thị số IMEI: 357301/90/166926/8, lắp sim có số seri: 8984048000903028946, hiển thị số điện thoại 0971.254.xxx; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng lắp sim có số seri: 8984048000384706207, hiển thị số điện thoại 0964.097.xxx; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, có số IMEI: 357332564052351, IMEI2: 357332564552350.
  • 01 (một) túi xách màu đen khác, bên trong có các giấy tờ tuỳ thân: 01 (một) Căn cước công dân, 01 (một) Giấy phép lái xe, 01 (một) Giấy đăng ký mô tô, xe máy đều mang tên Hoàng Thị T2; 01 (một) Giấy phép lái xe, 01 (một) Đăng ký mô tô, xe máy đều mang tên Phạm Văn T4; 02 (hai) biển kiểm soát, màu vàng số 98B-015.59.

Tổ công tác đã tiến hành mở rộng truy tìm, đến hồi 16 giờ 50 phút cùng ngày phát hiện 01 (một) thuyền sắt dài 12m, có mái che bằng tôn đang neo đậu trong hồ C thuộc thôn A, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trên thuyền có chủ thuyền là Vi Văn T cùng với Hoàng Thị B. Quá trình làm việc, T đã tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu xanh, số IMEI 1: 354491511162136, IMEI 2: 357022901162134 và 01 (một) chiếc thuyền làm bằng kim loại, chạy bằng động cơ máy nổ, dài 12 mét, có mái che làm bằng tôn; Bằng tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màu xanh, số IMEI 1: 865966047781279, IMEI 2: 865966047781261.

Tiếp tục mở rộng truy tìm, hồi 08 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, phòng C1 Công an tỉnh B phát hiện tại đồi cây thuộc rừng phòng hộ khu vực lòng hồ thuộc thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang có 01 bãi đất trống kích thước (5x3)m nghi là hiện trường đánh bạc ngày 24/3/2024, đặc điểm vị trí: phía đông cách lòng hồ C 500m; phía Tây hướng lên đỉnh núi; phía Nam hướng lên đồi cây; hướng Bắc giáp đường mòn lên đỉnh núi. Xung quanh hiện trường phát hiện các đồ vật sau: Các mảnh giấy có ghi chữ số bị xé; 01 (một) hòm tôn bên trong chứa: 02 (hai) dao bài dài 35cm, 04 (bốn) đĩa sứ màu trắng; 02 (hai) bát sứ màu trắng; 04 (bốn) quân vị làm bằng tre, một mặt tô mực màu đen, một mặt để nguyên; 01 (một) bìa cây thuốc lá kẻ bảng; 10 (mười) bút dạ mực màu đen; 01 (một) bút bi màu đỏ; 01 (một) túi dây nịt; 01 (một) miếng gỗ hình vuông dầy 04cm; 01 (một) khúc gỗ dài 35cm; 01 (một) khúc tre dài 35cm; 01 (một) bình ga mini; 01 (một) đầu khò; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ; 01 (một) làn nhựa đựng: 01 (một) dao gọt hoa quả dài 25cm; 01 (một) áo khoác có mũ màu đen; 01 (một) khăn mặt màu xanh; 01 (một) kéo sắt; 03 (ba) đĩa nhựa; 02 (hai) lon nước bò húc; 01 (một) tấm nỉ màu đỏ có chiều dài khoảng 04m, chiều rộng khoảng 01m; 01 (một) bao tải bên trong có 30 chiếc ghế nhựa; 01 (một) bạt màu xanh – đỏ; 01 (một) cuốc; 01 (một) xẻng, Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định pháp luật, lập bản ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường.

Quá trình điều tra, các đối tượng Nguyễn Văn Q, Vi Văn T, Vi Văn T1, Hoàng Thị T2, Hoàng Thị T3, Trần Thị K1, Vi Văn S và Vy Thị L đã ra đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân. Tại Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vi Văn T và Vi Văn T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Hoàng Thị T2, Hoàng Thị T3, Trần Thị K1, Vi Văn S và Vy Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đến ngày 12/9/2024 Chu Văn K đến Công an huyện L đầu thú và khai nhận hành vi tham gia đánh bạc ngày 24/3/2024 tại thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang của bản thân.

Trong các ngày 25/3, 26/3, 28/3, 29/3, 31/3, 01/4, 09/4, 23/4, 14/6, 18/6, 10/8 và ngày 28/11/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Nguyễn Văn Q, Hoàng Thị B, Trần Thị K1, Vi Văn T, Hoàng Thị T2, Hoàng Thị T3, Hoàng Thị T2, Vi Văn S, Nguyễn Đình K2, Vy Thị L, Vi Văn T1 và Chu Văn K nhận dạng qua bản ảnh đối với các đối tượng có liên quan. Kết quả các đối tượng đều nhận dạng đúng và xác định các đối tượng cùng tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Trong đó Hoàng Thị T3, Trần Thị K1, Vi Văn S, Nguyễn Đình K3 nhận dạng đúng và xác định Chu Văn K là người làm dây (chục chín), ngồi bên lẻ, cạnh người xóc cái. Bản thân Chu Văn K nhận dạng đúng Chu Văn C, Nông Văn Q1, Hoàng Văn N, Nguyễn Văn Q, Vi Văn T.

Quá trình điều tra, Chu Văn K khai nhận: Ngày 24/3/2024 có tham gia đánh bạc tại thôn Đ, xã S, huyện L. Khi đến sới bạc, K mang theo và sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc thì K là dây (chục chín), không bị ai thu phế. Tổng số tiền K sử dụng vào mục đích đánh là 500.000 đồng.

Hình thức đánh bạc là đánh xóc đĩa được thua bằng tiền, cụ thể như sau: Người xóc cái cho 04 (bốn) quân vị bằng gỗ tre, mỗi quân vị có một mặt tô mực màu đen, một mặt để nguyên dạng (gọi là mặt trắng) vào trong đĩa làm bằng sứ rồi lấy bát làm bằng sứ úp lên trên. Sau đó người xóc cái xóc lên, từ đó sẽ tạo nên các hình thức chẵn lẻ khác nhau. Mặt chẵn gồm: 4 quân màu trắng, 4 quân màu đen hoặc 2 quân màu đen, 2 quân màu trắng. Mặt lẻ gồm: 1 quân màu đen, 3 quân màu trắng hoặc 1 quân màu trắng, 3 quân màu đen. Khi đánh bạc, có quy ước là đặt tiền bên tay phải người xóc cái là bên chẵn, bên tay trái người xóc cái là bên lẻ. Tùy theo từng ván bạc mà các đối tượng đánh chẵn, lẻ khác nhau, ai đánh bạc bên nào thì đặt tiền bên đó, tỉ lệ được thua là 1/1. Khi người xóc cái xong thì đặt bát xuống chiếu, các đối tượng bắt đầu đặt tiền, khi không còn ai đặt tiền nữa thì người cầm cái mở bát ra, nếu ván bạc là chẵn thì người làm hồ lỳ sẽ lấy tiền của những người đánh bạc bên lẻ trả cho người đánh bạc bên chẵn và ngược lại; nếu ván bạc là lẻ thì người làm hồ lỳ lấy tiền của những người đánh bạc bên chẵn trả cho người đánh bạc bên lẻ. Trong ván bạc, thừa tiền thì người xóc cái sẽ được hưởng, thiếu tiền thì người xóc cái lấy tiền mình trả cho người thắng. Tùy theo từng ván bạc, nếu ván bạc nào sau khi xóc cái xong mà canh bạc bị ế, người xóc cái cảm thấy ván bạc bị thua thì người xóc cái sẽ không mở bát và yêu cầu được xóc ván mới, lúc này người làm dây (tức là chục chín) sẽ đứng ra mở bát và thu hết tiền ở cả hai bên lẻ và chẵn. Sau đó trả 90% phần tiền cho người thắng và được hưởng 100% số tiền của người chơi thua. Ngoài ra những người đánh bạc còn có thể đánh bảng vị, trong đó 01 ô 01 chấm đen, 03 chấm trắng; 01 ô 03 chấm đen, 01 chấm trắng; 01 ô 04 chấm đen; 01 ô 04 chấm trắng. Nếu người chơi đặt tiền ở ô 04 chấm trắng hoặc ô 04 chấm đen, khi người sóc cái mở bát ra mà quân cái thể hiện 04 quân trắng hoặc 04 quân đen thì tỷ lệ là 1 gấp 10 lần; nếu đặt tiền ở ô 01 chấm đen, 03 chấm trắng hoặc ô 01 chấm trắng, 03 chấm đen thì khi người sóc cái mở bát ra mà quân cái thể hiện 01 quân đen, 03 quân trắng hoặc 01 quân trắng, 03 quân đen thì tỷ lệ là 1 gấp 3 lần.

Đối với các bị can Hoàng Văn N, Nông Văn Q1, Chu Văn C sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 1877 ngày 03/12/2024 để tách hành vi của các bị can, điều tra trong một vụ án khác là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc T5 khi được triệu tập đến làm việc, đã khai nhận là người có mặt và bán nước uống tại hiện trường, không tham gia đánh bạc, phù hợp với lời khai và kết quả nhận dạng của các bị cáo trong vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đặt ra xem xét, xử lý đối với T5 là có căn cứ. Quá trình làm việc, T5 xác định 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu xanh, số IMEI: 356713116613850, đã qua sử dụng lắp sim có số seri: 8984048000303305176, hiển thị số điện thoại 0966.368.xxx là của T5. Ngày 25/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động, có đặc điểm nêu trên, kết quả không phát hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 27/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Nguyễn Thị Ngọc T5 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 356713116613850, đã qua sử dụng lắp sim có số seri: 8984048000303305176, hiển thị số điện thoại 0966.368.xxx.

Đối với số vật chứng còn lại, bao gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 358780101025877, số IMEI 2: 358781101025875 của Nguyễn Đình K3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, tại mặt sau điện thoại có hiển thị số IMEI: 357301/90/166926/8, lắp sim có số seri: 8984048000903028946, hiển thị số điện thoại 0971.254.xxx; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng lắp sim có số seri: 8984048000384706207, hiển thị số điện thoại 0964.097.xxx; 01 (một) phong bì ghi chú “Vị trí số 01 tại hiện trường”, bên trong có nhiều mảnh giấy nhỏ có ghi các con số; 01 (một) phong bì ghi chú “Vị trí số 02 tại hiện trường”, bên trong có nhiều mảnh giấy nhỏ có ghi các con số; 01 (một) làn nhựa; 01 (một) dao gọt hoa quả dài khoảng 25cm; 01 (một) áo khoác màu đen liền mũ; 01 (một) khăn mặt màu xanh; 01 kéo sắt; 03 đĩa nhựa hình tròn (01 đĩa màu xanh; 02 đĩa màu trắng); 02 (hai) lon nước bò húc; 01 (một) bao dứa bên trong có 30 chiếc ghế nhựa các màu; 01 (một) tấm nỉ đỏ có kích thước (1,01 x 3.90)m; 01 (một) tấm bạt màu xanh có kích thược (5x7,3)m; 01 (một) cuốc sắt có cán bằng gỗ; 01 (một) xẻng sắt có cán bằng gỗ; 01 (một) thùng giấy niêm phong dán kín bằng dải niêm phong, bên trong chứa 01 (một) hòm tôn. Trong hòm tôn có: 02 (hai) dao bài dài khoảng 35cm (trong đó có 01 dao cán màu xanh); 04 (bốn) đĩa sứ màu trắng; 02 (hai) bát sứ màu trắng (trong đó có 01 bát được tô mực đen bên trong, bên ngoài dán băng dính); 04 (bốn) quân vị bằng tre một mặt tô mực đen; 01 (một) bìa cát tông làm bằng hộp bao thuốc lá, một mặt được kẻ bảng màu đỏ; 10 (mười) bút dạ đen; 01 (một) bút bi màu đỏ; 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa nhiều vòng dây chun (không kiểm đếm số vòng); 01 (một) miếng gỗ hình vuông; 01 (một) khúc tre dài khoảng 35cm; 01 bình ga mini; 01 (một) đầu khò; 01 (một) bó hương (không kiểm đếm); 01 (một) bộ bài tú lơ khơ (không kiểm đếm); 01 (một) túi màu đen có chữ “Calotiy Kione”; 02 biển kiểm soát màu vàng số 98B-015.59, được lưu trữ tại kho vật chứng của Công an huyện L, để giải quyết trong vụ án được tách từ vụ án nêu trên.

* Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Chu Văn K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người vắng mặt, bị cáo không có ý kiến gì.

* Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Văn K từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/3/2024 tại đồi cây thuộc rừng phòng hộ, khu vực lòng hồ thuộc thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang, các đối tượng Nguyễn Văn Q, Vi Văn T, Hoàng Văn N, Chu Văn C, Nông Văn Q1, Vi Văn T1 đã có hành vi tổ chức cho các đối tượng gồm Hoàng Thị T2, Hoàng Thị T3, Trần Thị K1, Vi Văn S, Vy Thị L và Chu Văn K tham gia đánh bạc, bằng hình thức đánh xóc đĩa. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 19.140.000 đồng thu lời bất chính bằng việc thu phế 1.500.000 đồng. Trong đó Chu Văn K sử dụng 500.000 đồng vào mục đích đánh bạc.

[4] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ hành vi mà bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện lỗi cố ý với mong muốn thu lời bất chính, sát phạt nhau về kinh tế, được thua bằng tiền. Hành vi nêu trên của bị cáo Chu Văn K đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây nên dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn khác trong xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung về tội phạm. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo Chu Văn K có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính và xét xử về hành vi “Đánh bạc”.

[9] Xét vai trò của bị cáo thì thấy: Trong vụ án này, bị cáo Chu Văn K cùng các bị cáo Hoàng Thị T3, Vy Thị L, Hoàng Thị T2, Trần Thị K1 và Vi Văn S tham gia đánh bạc. Trong đó Chu Văn K sử dụng 500.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Do đó, Chu Văn K phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm trong vụ án theo quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

[10] Về mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Chu Văn K là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính và bị xét xử về hành vi “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý; thể hiện bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Chu Văn K ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[11] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử thấy bị cáo Chu Văn K tham gia đánh bạc với mục đích trục lợi, thu lời bất chính nên cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định.

[12] Về những vấn đề khác: Đối với hành vi của Nguyễn Văn Q, Vi Văn T, Vi Văn T1, Hoàng Thị T2, Hoàng Thị T3, Trần Thị K1, Vi Văn S và Vy Thị L đã được xét xử tại Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với Hoàng Văn N, Nông Văn Q1, Chu Văn C sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tách hành vi của các bị can, điều tra trong một vụ án khác. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của các đối tượng trên theo quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc T5 khi được triệu tập đến làm việc, đã khai nhận là người có mặt và bán nước uống tại hiện trường, không tham gia đánh bạc, phù hợp với lời khai và kết quả nhận dạng của các bị cáo trong vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đặt ra xem xét, xử lý đối với T5 là có căn cứ.

[13] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 356713116613850, đã qua sử dụng lắp sim có số seri: 8984048000303305176, hiển thị số điện thoại 0966.368.xxx. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Nguyễn Thị Ngọc T5, qua kiểm tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Nguyễn Thị Ngọc T5 là có căn cứ.

Đối với vật chứng gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 358780101025877, số IMEI 2: 358781101025875 của Nguyễn Đình K3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, tại mặt sau điện thoại có hiển thị số IMEI: 357301/90/166926/8, lắp sim có số seri: 8984048000903028946, hiển thị số điện thoại 0971.254.xxx; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng lắp sim có số seri: 8984048000384706207, hiển thị số điện thoại 0964.097.xxx; 01 (một) phong bì ghi chú “Vị trí số 01 tại hiện trường”, bên trong có nhiều mảnh giấy nhỏ có ghi các con số; 01 (một) phong bì ghi chú “Vị trí số 02 tại hiện trường”, bên trong có nhiều mảnh giấy nhỏ có ghi các con số; 01 (một) làn nhựa; 01 (một) dao gọt hoa quả dài khoảng 25cm; 01 (một) áo khoác màu đen liền mũ; 01 (một) khăn mặt màu xanh; 01 kéo sắt; 03 đĩa nhựa hình tròn (01 đĩa màu xanh; 02 đĩa màu trắng); 02 (hai) lon nước bò húc; 01 (một) bao dứa bên trong có 30 chiếc ghế nhựa các màu; 01 (một) tấm nỉ đỏ có kích thước (1,01 x 3.90)m; 01 (một) tấm bạt màu xanh có kích thước (5x7,3)m; 01 (một) cuốc sắt có cán bằng gỗ; 01 (một) xẻng sắt có cán bằng gỗ; 01 (một) thùng giấy niêm phong dán kín bằng dải niêm phong, bên trong chứa 01 (một) hòm tôn. Trong hòm tôn có: 02 (hai) dao bài dài khoảng 35cm (trong đó có 01 dao cán màu xanh); 04 (bốn) đĩa sứ màu trắng; 02 (hai) bát sứ màu trắng (trong đó có 01 bát được tô mực đen bên trong, bên ngoài dán băng dính); 04 (bốn) quân vị bằng tre một mặt tô mực đen; 01 (một) bìa cát tông làm bằng hộp bao thuốc lá, một mặt được kẻ bảng màu đỏ; 10 (mười) bút dạ đen; 01 (một) bút bi màu đỏ; 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa nhiều vòng dây chun (không kiểm đếm số vòng); 01 (một) miếng gỗ hình vuông; 01 (một) khúc tre dài khoảng 35cm; 01 bình ga mini; 01 (một) đầu khò; 01 (một) bó hương (không kiểm đếm); 01 (một) bộ bài tú lơ khơ (không kiểm đếm); 01 (một) túi màu đen có chữ “Calotiy Kione”; 02 biển kiểm soát màu vàng số 98B-015.59, được lưu trữ tại kho vật chứng của Công an huyện L, để tiếp tục giải quyết trong vụ án được tách từ vụ án nêu trên là có căn cứ.

[14] Về án phí: Bị cáo Chu Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[15] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 136, 292, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Văn K 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính ngày tạm giữ, tạm giam 13/11/2024.
    • - Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng xung công quỹ Nhà nước.
  2. Về án phí: Bị cáo Chu Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND Tối cao;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Diệp Văn Vĩ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về đánh bạc

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chu Văn K - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger