|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 20-02-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguỵ Thanh Tuyên;
Ông Cao Văn Thịnh.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trịnh Thị Mừng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:03/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Bùi Thị H1 (đều đã chết); có vợ là Phạm Thị T (đã chết); có 03 con; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16-8-2024 cho đến nay hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G.
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn Q; sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Bà Nguyễn Thị N; sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Bà Lê Thị M; sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng: Ông Mai Văn H2; ông Nguyễn Văn Q1; bà Nguyễn Thị K; ông Phạm Văn Q2; ông Trịnh Văn Đ1, anh Phạm Văn T1.
Tại phiên toà: Có mặt bị cáo, bị hại, người làm chứng ông H2 và anh T1; những người làm chứng còn lại đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Văn Đ, có quản lý, sử dụng 01 khu đất nghĩa trang tại nghĩa trang C thuộc xóm H (xóm E cũ), thị trấn G (loại đất này theo quy định không được phép mua bán, cho tặng hay sang nhượng). Năm 2009 tại khu đất này Đ đã xây dựng 01 lăng mộ có diện tích khoảng 25-30 m², sau đó Đ đã chuyển hài cốt của vợ là bà Phạm Thị Thanh V khu lăng này. Đến tháng 3/2023 Đ xây dựng thêm một lăng mộ khác tại nghĩa trang H3, thị trấn G. Để có tiền xây lăng, Đ đã nảy sinh ý định bán lăng mộ tại nghĩa trang C trên nên đã đưa ra thông tin không đúng sự thật về việc có lăng mộ muốn bán (nhưng trên thực tế lăng mộ này không được phép bán) thì ông Nguyễn Văn Q đã liên hệ hỏi mua. Khoảng 06 giờ sáng ngày 24/3/2023, Đ dẫn ông Q đến xem khu lăng mộ rồi ông Q và Đ thống nhất là Đ sẽ nhượng lại khu lăng mộ trên cho ông Q với giá 39.000.000 đồng. Sau đó ông Q về nhà chuẩn bị tiền và viết sẵn hợp đồng chuyển nhượng đất lăng mộ rồi mang tiền và hợp đồng ra nghĩa trang H3 gặp Đ. Đ cầm đủ số tiền và ký tên xác nhận vào hợp đồng với nội dung Đ đã nhận đủ tiền và cam kết với ông Q chậm nhất đến tháng 11/2023 âm lịch (tháng 12/2023 dương lịch) sẽ bàn giao lại khu lăng mộ trên cho ông Q.
Sau khi bán khu đất lăng mộ trên cho ông Q, do cần tiền để tiếp tục xây lăng mộ ở nghĩa trang H3, Đ tiếp tục thông tin về việc có lăng mộ muốn bán. Ngày 26/4/2023 bà Nguyễn Thị N đã liên hệ với Đ để đặt vấn đề mua lại khu lăng mộ. Sau khi nói chuyện, Đ thống nhất bán khu lăng mộ trên cho bà N với giá 53.000.000 đồng. Sau đó Đ dẫn bà N đi xem lăng mộ đang xây dựng ở nghĩa trang H3 của mình để làm tin, lúc này bà N tin tưởng và về nhà chuẩn bị tiền rồi viết sẵn hợp đồng chuyển nhượng đất lăng mộ rồi mang tiền và hợp đồng ra nghĩa trang H3 gặp Đ. Đ cầm đủ số tiền và ký tên xác nhận vào giấy tờ do bà N lập ra. Đ cũng cam kết với bà N chậm nhất đến tháng 11/2023 âm lịch (tháng 12/2023 dương lịch) sẽ bàn giao khu lăng mộ cũ cho gia đình bà N sử dụng.
Cùng thời điểm trên Phạm Văn Đ tiếp tục thông tin muốn nhượng lại khu đất lăng mộ của gia đình tại nghĩa trang C, thị trấn G với ông Mai Văn H2. Sau đó ông H2 có trao đổi lại với vợ chồng bà Lê Thị M (là chị dâu họ bên chồng của ông H2) về việc trên thì bà M có nhờ H2 nói lại với Đ là gia đình bà M có nhu cầu mua lại lăng mộ trên. Ông H2 đã trao đổi với Đ thì Đ bảo nếu lấy lăng thì phải trả cho Đ số tiền 50.000.000 đồng. Ông H2 đã trao đổi lại với bà M, bà M đồng ý mua. Ngày 04/5/2023, bà M đã mang số tiền 50.000.000 đồng đến nhà đưa cho ông H2 và nhờ ông H2 đứng ra thực hiện việc giao dịch, chuyển nhượng lăng với Phạm Văn Đ giúp cho bà M. Sáng ngày 06/5/2023, ông H2 một mình cầm số tiền 50.000.000 đồng vừa nhận của bà M đến gặp Đ để trao đổi, mua bán lăng mộ. Tại bàn uống nước của gian phòng khách, ông H2 đã đưa tiền cho Đ, đồng thời nói với Đ là đứng ra mua giúp gia đình bà M nên cần phải viết giấy tờ chuyển nhượng để cầm về cho bà M làm tin. Đ đồng ý rồi vào phòng sau gian phòng khách lấy giấy bút. Sau đó Đ đưa giấy bút cho ông H2 viết giấy chuyển nhượng lăng mộ nêu trên. Sau khi viết xong giấy chuyển nhượng thì ông H2 ký tên “Hiên”, “Mai Văn H2” xác nhận vào mục “người làm chứng”, còn Đ ký tên “Đông”, “Phạm Văn Đ” xác nhận bên dưới mục “chủ nhượng”. Sau khi hoàn thành việc chuyển nhượng lăng mộ ông H2 đã cầm giấy chuyển nhượng trên về đưa lại cho bà M.
Sau khi phát hiện ra hành vi gian dối của Phạm Văn Đ đã bán cùng một khu đất lăng mộ cho nhiều người, ngày 15/5/2024, ông Nguyễn Văn Q, bàNguyễn Thị N, bà Lê Thị M đã làm đơn trình báo đến Công an thị trấn G và Cơ quan CSĐT Công an huyện G.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Gđã triệu tập Phạm Văn Đđến làm việc, tại CQĐT Phạm Văn Đ đã thừa nhận hành vi bán cùng 01 khu đất lăng mộ tại nghĩa trang Ccho ông Q và bà N; không thừa nhận việc đã bán đất lăng mộ trên cho bà M thông qua ông Mai Văn H2 và không thừa nhận việc đã ký tên vào giấy chuyển nhượng do bà M giao nộp. Tuy nhiên, bằng các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập được, có đủ căn cứ khẳng định Phạm Văn Đđã bán đất lăng mộ trên cho bà Lê Thị Mvới giá 50.000.000 đồng thông qua ông Mai Văn H2.
Quá trình điều tra, Cơ quan ĐT đã thu giữ của ông Nguyễn Văn Q01 giấy chuyển nhượng với Phạm Văn Đcó nội dung: “Tên tôi là: Phạm Văn Đ54 tuổi ở xóm Đgiao tiến giao thuỷ Nam Định. Tôi có khu lăng mộ tại nghĩa trang C Diện tích 25m² (Hai mươi năm mét vuông). Hiện nay tôi có một ngôi mộ an táng tại đó Do điều kiện tôi muốn chuyển ngôi mộ của vợ tôi về khu lăng mộ của dòng tộc tại H. Vì vậy tôi chuyển nhượng khu lăng mộ ở cựu trung lại cho anh Nguyễn Văn Qở xóm G cùng xã với giá 39 triệu. Tôi đã nhận đủ số tiền trên và đến tháng 11 âm lịch năm 2023 tôi sẽ chuyển mộ vợ tôi và giao lại cho anh Nguyễn Văn Q đúng theo thoả thuận cho anh Q sử dụng. Giao tiến ngày 24-3-2023", phía dưới ở mục “người giao lăng” có chữ ký “Đông” và tên “Phạm Văn Đ”; mục “người nhận lăng” có chữ ký “Q” và chữ “Nguyễn Văn Q”.
Và 01 giấy chuyển nhượng với nội dung: “Tôi là phạm Văn Đ thuộc xóm xã giao tiến có khu lăng mộ gia đình tại cựu trung của xã. Trong lăng mộ có một ngôi mộ của vợ tôi diện tích là 25 m², nay tôi chuyển ngôi mộ của vợ tôi về lăng của dòng họ dưới hoang điền, Vì vậy tôi chuyển nhượng diện tích lăng trên cho anh Nguyễn Văn Q xóm 7 cùng xã với giá 39.000.000đ (Ba mươi chín triệu đồng) với điều kiện tháng 11 năm 2023 tôi chuyển mộ tôi đi và giao lại lăng cho anh Q. Tôi cam đoan khu lăng của gia đình riêng tôi không chung chạ với anh em nào Tôi đã nhận đủ số tiền 39.000.000 và thực hiện đúng với thoả thuận trên”, phía dưới ở mục “người nhận tiền” có chữ ký “Đông” và chữ “Phạm Văn Đ”; mục “người giao tiền” có chữ ký “Q” và chữ “Nguyễn Văn Q”.
Thu giữ của bà Nguyễn Thị N01 giấy chuyển nhượng với Phạm Văn Đ có nội dung: “1, Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất năng mộ. Ông: phạm văn Đ sinh năm 1970 tại xóm B giao tiến số căn cước CD: [...] ngày cấp 26/01/2022. 2, bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là bà: Nguyễn Thị N sinh năm 1981 địa chỉ xóm A giao tiến số căn cước [...] hai bên nhất trí thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo các cam kết sau đây: tôi có mảnh đất năng tại nghĩa trang C xã giao tiến diện tích là 25m² được ubND xã cấp làm năng quy táng gia đình Nay gia đình tôi không có nhu cầu sử dụng tôi xin chuyển nhượng lại cho bà: Nguyễn Thị N xóm 1 giao tiến gai đình tôi xin cam kết mảnh đất năg 25m2 trên thuộc quyền sở hữu của gia đình tôi tôi ko thuộc đất nông nghiệp, không thuộc đất tranh chấp hoặc ubND xã thu hồi do không phải đất làm năng được cấp thì tôi phải đền bù số tiền gấp 2 lần số tiền đã chuyển nhượng cho bên nhận chuyển nhượng. Số tiền chuyển nhượng đất năng là: 53.000.000đ (Năm mươi ba triệu đồng chẵn) ”, phía dưới ở mục “bên chuyển nhượng” có chữ ký “Đông” và chữ “Phạm Văn Đ”; mục “bên nhận chuyển nhượng” có chữ ký “Nguyễn thị Nhung”; mục “người làm chứng” có chữ ký “Nguyễn Thị K”.
Thu giữ của bà Lê Thị M01 giấy chuyển nhượng với Phạm Văn Đcó nội dụng: “Tôi tên là phạm Văn Đ tôi có ô lăng rộng khoảng 25m² tôi có chuyển nhượng cho ông Bà Mai Văn Q3 gần cạnh lăng của ông M1 xuân thành cùng chi phái Quá tuyệt vời. ngoài tôi ra o ai có quyền can thiệp vào ô Này”, phía dưới ở mục “người làm chứng” có chữ ký “Hiên” và tên “Mai Văn H2”; mục “chủ nhượng” có chữ ký “Đông” và tên “Phạm Văn Đ”. Ký hiệu A.
Cơ quan điều tra tiến hành thu thập tự dạng chữ viết, chữ ký của Phạm Văn Đ và Mai Văn H2 làm mẫu so sánh như sau:
- - 01 (một) bản tự khai do Phạm Văn Đ viết tay bằng bút bi mực màu đen, lập ngày 02/7/2024. Ký hiệu M1.
- - 01 (một) bản tự khai do Phạm Văn Đ viết tay bằng bút bi mực màu đen, lập ngày 09/7/2024. Ký hiệu M2.
- - 01 (một) bản tự khai do ông Mai Văn H2 viết tay bằng bút bi mực màu đen, lập ngày 05/7/2024. Ký hiệu M3.
- - 01 (một) bản tự khai do ông Mai Văn H2 viết tay bằng bút bi mực màu đen, lập ngày 10/7/2024. Ký hiệu M4.
Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã trưng cầu giám định so sánh mẫu chữ viết, chữ ký tại các văn bản ký hiệu A, M1, M2, M3, M4.
Tại bản kết luận giám định số 1528/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận:
- Chữ "Đông" tại dòng 13; chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Văn Đtại dòng 14, 15 trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Văn Đ trên mẫu so sánh là các bản tự khai của Phạm Văn Đ tại cơ quan điều tra (Ký hiệu M1, M) là cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) trừ chữ "Đông" tại dòng 13 và chữ viết đứng tên "Phạm Văn Đ" tại dòng 14, 15 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Mai Văn H2 trên mẫu so sánh là các bản tự khai của Mai Văn H2 tại Cơ quan điều tra (Ký hiệu M3, M) là cùng một người ký, viết ra.
Tại bản kết luận giám định số 8515/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của V1 Bộ C1 kết luận:
« 1. Chữ ký, chữ viết cần giám định đứng tên Phạm Văn Đ dưới mục "chủ nhượng" trên mẫu ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết mẫu so sánh của Phạm Văn Đ trên các mẫu ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký, viết ra.
2. Chữ ký, chữ viết cần giám định trên mẫu ký hiệu A (trừ chữ ký, chữ viết đã kết lận ở mục 1) so với chữ ký, chữ viết mẫu so sánh của Mai Văn H2 trên các mẫu ký hiệu M3, M4 do cùng một người ký, viết ra ».
Bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 07-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Phạm Văn Đkhai nhận về hành vi đã bán đất lăng mộ cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị N và cho bà Lê Thị M.
- - Ba bị hại đều xác định bị cáo đã bán đất lăng mộ cho mình lấy tiền là vi phạm pháp luật; về trách nhiệm dân sự bị cáo và gia đình đã bồi thường đầy đủ nên không có yêu cầu gì thêm. Về hình phạt đối với bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi đã bán cùng 1khu đất lăng mộ cho lần lượt 03 người. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra cho các bị hại, nay các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Phạm Văn Đ nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình đã thực hiện là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình hạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Mặc dù biết rõ đất nghĩa trang không được phép mua bán, chuyển nhượng nhưng để có tiền sử dụng vào mục đích cá nhân, từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023, Phạm Văn Đ đã đưa ra thông tin gian dối và nhiều lần bán cùng một khu đất lăng mộ tại nghĩa trang C, thị trấn G do gia đình Đ đang quản lý, sử dụng cho nhiều người. Cụ thể ngày 24/3/2023, Phạm Văn Đđã bán khu đất lăng mộ tại nghĩa trang C cho ông Nguyễn Văn Q với số tiền 39.000.000 đồng, ngày 26/4/2023, Đ tiếp tục bán khu đất lăng mộ trên cho bà Nguyễn Thị N với số tiền 53.000.000 đồng. Ngày 06/5/2023 bán cùng khu đất lăng mộ này cho bà Lê Thị M với số tiền 50.000.000 đồng, thông qua người giao dịch trực tiếp là ông Mai Văn H2. Tổng số tiền Phạm Văn Đđã chiếm đoạt của ông Q, bà N và bà Mlà 142.000.000 đồng. Nên hành vi của Phạm Văn Đđã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định điểm c khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội. Bản thân bị cáo không chịu lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân mà chỉ thích hưởng thụ cần tiền ăn tiêu nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác dẫn tới phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thực hiện 03 lần hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã một phần thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có đơn trình báy điều kiện gia đình khó khăn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động con trai là anh Phạm Văn T1 trả lại số tiến đã chiếm đoạt cho các bị hại, anh T1 đã trả lại cho ông Q số tiền 39.000.000 đồng, bà N số tiền 53.000.000 đồng, bà M số tiền 50.000.000 đồng. Nay ông Q, chị N và bà M không có yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2024.
- Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vũ Xuân Trường Cao Văn Thịnh |
Phạm Thanh Lâm |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Đông - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
