|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19-02- 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Huy và bà Nguyễn Thị Hồng Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Hôm nay, ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 89a/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST- HNGĐ ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn Nông trường L, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn 1, N, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, văng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 01/10/2024, bản tự khai ngày 15/11/2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương T đều trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn S tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Nông trường L, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 06/02/2020.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 03 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không phù hợp, thường xuyên cải vả, xúc phạm lẫn nhau, anh S thường xuyên rượu chè, bỏ bê gia đình vợ con, chị T đã góp ý nhiều lần nhưng anh S vẫn không thay đổi. Vì vậy chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sống từ tháng 04/2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Hiện tại, chị T xét thấy tình cảm giữa chị và anh S đã hết nên chị yêu cầu được ly hôn anh S.
Về con chung: Chị T trình bày chị và anh S có 01 con chung là Nguyễn Khả H, sinh ngày 03/3/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung vẫn với anh S, nên chị T có nguyện vọng giao con cho anh S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, chị T cấp dưỡng nuôi con chung với anh S mỗi tháng 1.500.000 đồng.
Về tài sản chung: Không có, nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai cũng như các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ. Anh Nguyễn Văn S đã nhận được các văn bản của Tòa án tống đạt.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Bị đơn anh Nguyễn Văn S đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương T và anh Nguyễn Văn S đăng ký kết hôn ngày 06/02/2020 tại UBND thị trấn Nông trường L, huyện L, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không phù hợp nên thường xuyên xảy ra bất hòa, xúc phạm lẫn nhau. Chị T và anh S sống ly thân từ tháng 04/2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Anh S đã được Tòa án thông báo các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, kể cả phiên tòa lần thứ hai cũng được tống đạt hợp lệ nhưng anh S vẫn vắng mặt không có lý do. Qua tống đạt văn bản của Tòa án nhân dân huyện L cho anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1995; nơi đăng ký HKTT tại xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, anh Nguyễn Văn S đã nhận được và ký vào văn bản giao nhận. Song sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt trực tiếp cho anh S mà anh vẫn vắng mặt, qua đó chứng tỏ anh S cố tình không chấp hành các thông báo, giấy triệu tập của Tòa án, không quan tâm bảo vệ hạnh phúc gia đình và không tha thiết hàn gắn tình cảm với chị T nữa. Chị T thì xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và yêu cầu xin được ly hôn anh S. Xét thấy, tình cảm vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho hai bên ly hôn nhau là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Xét chị T, anh S có 01 con chung Nguyễn Khả H, sinh ngày 03/3/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân con vẫn với anh S, nên chị T có nguyện vọng giao con cho anh S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, chị T cấp dưỡng nuôi con chung với anh S mỗi tháng 1.500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại con đang ăn ở ổn định với anh S và cũng cần chi phí sinh hoạt cho con, nên cần chấp nhận theo yêu cầu của chị T, giao con Nguyễn Khả H cho anh S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, buộc chị T cấp dưỡng nuôi con chung với anh S mỗi tháng 1.500.000 đồng là phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung: Không có, chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Phương T;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Phương T và anh Nguyễn Văn S được ly hôn nhau.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Khả H, sinh ngày 03/3/2018 cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Phương T cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Khả H mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 02/2025 cho đến khi con chung Nguyễn Khả H đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Tiền án phí chị T phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Lệ Thủy theo biên lai số 0004454 ngày 02/10/2024, chị Nguyễn Thị Phương T phải tiếp tục nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (19/02/2025); đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
