TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-PT.
Ngày: 18 - 02 - 2025.
V/v: “Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Luông.
Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn.
Bà Trịnh Thị Bích Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2024/TLPT-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, về “Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 74/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 03/TB-TA ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1974;
Địa chỉ: khu vực B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982;
Địa chỉ: khu vực B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hà Thị T2, sinh năm 1989.
- Chị Phan Thị Tuyết A, sinh năm 2001.
- Bà Phan Thị Ngọc T3, sinh năm 1972.
- Bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1976.
- Ông Phan Văn K, sinh năm 1978.
Cùng địa chỉ: khu vực B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Ủy ban nhân dân phường B, thị xã L.
Địa chỉ: khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hiền C, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T1 và chị Phan Thị Tuyết A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Phan Văn T trình bày: Ông T và bà T1 đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 216/2014/QĐST-HNGĐ ngày 19/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 20/2024/QĐ-SCBSQĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Theo đó, về tài sản chung ông T và bà T1 tự thỏa thuận, chưa yêu cầu giải quyết trong vụ án ly hôn nên Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ không xem xét, giải quyết. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.
Về nguồn gốc tài sản: Khoảng năm 2006, giữa nguyên đơn và bị đơn có làm mái che bán nước đá, sau đó năm 2008 xây tường để cất nhà, tuy nhiên việc cất nhà bị Ủy ban nhân dân (gọi tắt UBND) thị trấn L, huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 123/QĐ-XP-UB ngày 13/6/2008, lúc đó nhà là do ông T và bà T1 xây dựng nhưng do đất của ông Phan Văn H1 là cha ruột của ông T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên xử phạt vi phạm hành chính đối với ông H1. Căn nhà là tài sản chung của vợ chồng xây dựng, sau khi ly hôn bà T1 có sửa chữa, tuy nhiên căn nhà hiện nay nằm trước mặt nhà chính của ông T. Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2023, ông T giải quyết tranh chấp căn nhà có giá trị 16.000.000 đồng, theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 30/5/2024, ông T yêu cầu bà T1, chị Tuyết A tháo dỡ toàn bộ căn nhà có diện tích theo đo đạc thực tế là 31,25m², ông T thống nhất hỗ trợ toàn bộ giá trị căn nhà theo kết luận định giá là 58.888.375 đồng cho bà T1. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T tự nguyện hỗ trợ cho bà T1 tổng số tiền là 80.000.000 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Trước đây, căn nhà cất trên đất của ông Phan Văn H1 (cha chồng), lúc đó giữa ông T và bà T1 vẫn còn là vợ chồng, sau này phần đất chuyển tên cho ông Phan Văn T. Khi cất căn nhà thì đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính, căn nhà là tài sản chung của vợ chồng nhưng khi giải quyết ly hôn ông T cũng thống nhất cho bà T1 tiếp tục ở trên căn nhà, sau khi ly hôn, bà T1 có nâng nền, làm thêm cửa, sửa chữa nhà. Bà T1 không tranh chấp liên quan đến phần đất nhưng không thống nhất di dời căn nhà, khi nào Nhà nước quy hoạch thì bà T1 tự tháo dỡ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hà Thị T2 trình bày: Bà T2 thống nhất với ý kiến của ông Phan Văn T. Đối với vụ án này để ông T toàn quyền quyết định.
Chị Phan Thị Tuyết A trình bày: Chị Tuyết A đang sinh sống trong căn nhà tranh chấp, chị Tuyết A yêu cầu giải quyết cho chị và bà T1 được tiếp tục sống trong nhà tạm này, cho đến khi nào Nhà nước có quy hoạch, giải tỏa thì chị và bà T1 thực hiện theo quy định Nhà nước. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Tuyết A trình bày đang làm việc ở Cần Thơ, thông thường cuối tuần mới về nhà, trong vụ án này, chị Tuyết A để bà T1 toàn quyền quyết định, không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
Bà Phan Thị Ngọc T3, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Văn K cùng trình bày: Các ông bà cùng cam kết đối với căn nhà tranh chấp giữa ông T và bà T1 được xây dựng trên phần đất hiện nay do ông T đứng tên thì bà T3, bà H, ông K không có ý kiến và yêu cầu gì, đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt thời gian giải quyết vụ án.
Đại diện UBND phường B trình bày: Theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà số 123/QĐ-XP-UB ngày 13/6/2008 của UBND thị trấn L thể hiện ông Phan Văn H1 là chủ đầu tư tổ chức xây dựng bộ phận công trình, công trình vi phạm quy hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và công bố, qua làm việc với ông Phan Văn H1 có ý kiến “tôi muốn ra riêng cho con tôi nên mới xây dựng nhà ở để cho con tôi ở, khi nào nhà nước có nhu cầu giải tỏa thì tôi không đòi hỏi bồi thường về căn nhà nêu trên”, hiện nay ông H1 đã chết, chưa thể hiện được ai là người nhận thừa kế tài sản công trình đó, từ đó UBND phường B chưa thể đưa ra hướng giải quyết đối với phần tài sản công trình nhà ở của ông Phan Văn H1 trên phần đất của ông Phan Văn T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn T.
Ông Phan Văn T có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 80.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Phan Văn T được tiếp tục quản lý, sử dụng tài sản là căn nhà có diện tích 31,25m². Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, vách tường, mái tole, nền gạch bông (trong đó có 01 vách tường nhờ và ốp gạch tường diện tích 15,5m²). Bà Nguyễn Thị T1, chị Phan Thị Tuyết A có nghĩa vụ giao căn nhà nêu trên cho ông Phan Văn T.
Bà Nguyễn Thị T1, chị Phan Thị Tuyết A được quyền lưu cư trong thời hạn 06 (sáu) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà số 123/QĐ-XP-UB ngày 13 tháng 6 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L (nay là phường B, thị xã L), tỉnh Hậu Giang được tiếp tục thực hiện theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/10/2024, bà Nguyễn Thị T1 và chị Phan Thị Tuyết A kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét cho bà T1 và chị Tuyết A được ở căn nhà trên, khi nào Nhà nước giải toả, di dời bà T1 và chị Tuyết A chấp hành, không khiếu nại, bởi vì hiện nay bà và chị chưa có chỗ ở nào khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm:
Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, tài sản đang tranh chấp là căn nhà, giữa nguyên đơn và bị đơn thừa nhận căn nhà này lúc xây cất đã bị lập biên bản và cũng đã có Quyết định buộc tháo dỡ, khôi phục lại hiện trạng ban đầu, như vậy dù trước hay sau căn nhà vẫn phải bị tháo dỡ, theo định giá căn nhà chỉ có giá trị là 58.888.375 đồng, nhưng ông T không nhận giá trị căn nhà mà đồng ý hỗ trợ cho bà T1 và chị Tuyết A 80.000.000 đồng là có lợi và tạo điều kiện cho bà T1 về chỗ ở. Do đó, việc kháng cáo yêu cầu được tiếp tục ở lại trên căn nhà là không thể chấp nhận. Tuy nhiên căn nhà buộc phải tháo dỡ khôi phục lại tình trạng ban đầu...theo Quyết định hành chính số 123/QĐ-XP-UB ngày 13/6/2008 của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, nhưng bản án sơ thẩm lại tuyên: “ông T được tiếp tục quản lý, sử dụng tài sản là căn nhà... bà T1 và chị Tuyết A được quyền lưu cư trong căn nhà thời hạn là 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Điều này trái với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L. Từ những phân tích như trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 và chị Phan Thị Tuyết A, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Ngày 18/9/2024 Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ xét xử vụ án, đến ngày 01/10/2024 bà Nguyễn Thị T1 và chị Phan Thị Tuyết A kháng cáo bản án sơ thẩm là còn trong hạn và đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được cấp phúc thẩm thụ lý và xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 và chị Phan Thị Tuyết A:
Bà T1 và chị Tuyết A kháng cáo cho rằng tài sản căn nhà là chỗ ở của bà T1 và chị Tuyết A, tuy nhiên căn cứ vào biên bản xác minh ngày 16/9/2024 thể hiện bà T1 còn đăng ký thường trú ở khu vực Bình Thạnh B, phường B nhưng không thường xuyên sinh sống trên căn nhà đang tranh chấp. Chị Tuyết A đang làm việc ở Cần Thơ, thông thường cuối tuần mới về nhà. Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận căn nhà đang tranh chấp này lúc xây cất đã bị lập biên bản và cũng đã nộp phạt do vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng, nguyên đơn và bị đơn cũng đã nộp phạt 150.000 đồng vào năm 2008. Quyết định buộc tháo dỡ, khôi phục lại hiện trạng ban đầu nhưng đến nay chưa tháo dỡ để khôi phục lại hiện trạng như ban đầu, như vậy dù trước hay sau căn nhà vẫn phải bị tháo dỡ theo Quyết định hành chính số 123/QĐ-XP-UB ngày 13/6/2008 của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, nhưng cấp sơ thẩm lại tuyên ông T được quyền quản lý, sử dụng căn nhà này, bà T1 và chị Tuyết A được quyền lưu cư trong căn nhà thời hạn là 06 tháng. Điều đó chứng tỏ rằng cấp sơ thẩm đã công nhận căn nhà xây dựng trái phép cho ông T được quyền quản lý, sử dụng, trái với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L. Do đó, không có cơ sở để công nhận cho bà T1 và chị Tuyết A ở lại căn nhà này, nên không có căn cứ nào để chấp nhận kháng cáo.
Từ những căn cứ như phân tích trên, thấy rằng nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1, chị Phan Thị Tuyết A là không có cơ sở, nên không chấp nhận. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T1, chị Phan Thị Tuyết A phải chịu do yêu cầu kháng cáo không được Toà án chấp nhận.
[4]. Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1, chị Phan Thị Tuyết A.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn T.
Ông Phan Văn T có nghĩa vụ giao giá trị căn nhà cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng theo sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn T4.
Bà Nguyễn Thị T1, chị Phan Thị Tuyết A có nghĩa vụ giao căn nhà nêu trên cho ông Phan Văn T.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tạm giao cho ông Phan Văn T quản lý căn nhà có diện tích 31,25m². Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, vách tường, mái tole, nền gạch bông (trong đó có 01 vách tường nhờ và ốp gạch tường diện tích 15,5m²). Ông T có trách nhiệm thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà số 123/QĐ-XP-UB ngày 13 tháng 6 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L (nay là phường B, thị xã L), tỉnh Hậu Giang theo quy định pháp luật.
Về án phí sơ thẩm: Ông Phan Văn T phải chịu 4.000.000 (bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng đã nộp theo lai thu số 16/2023-Q2 lập ngày 05/10/2023 và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo lai thu số 0007870 lập ngày 30/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Ông Phan Văn T phải nộp thêm số tiền án phí là 3.300.000 (ba triệu ba trăm nghìn) đồng.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, trích lục hồ sơ: Ông Phan Văn T tự nguyện chịu số tiền 6.950.000 (sáu triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng, ông T đã nộp xong.
Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T1, chị Phan Thị Tuyết A mỗi người phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp lần lượt theo các biên lai thu số 0007964, 0007963 cùng lập ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 18/02/2025.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Luông |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2023, ông Tuấn giải quyết tranh chấp căn nhà có giá trị 16.000.000 đồng, theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 30/5/2024, ông Tuấn yêu cầu bà Tuyết, chị Tuyết Anh tháo dỡ toàn bộ căn nhà có diện tích theo đo đạc thực tế là 31,25m2, ông Tuấn thống nhất hỗ trợ toàn bộ giá trị căn nhà theo kết luận định giá là 58.888.375 đồng cho bà Tuyết
