|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 04/2025/HSST Ngày 17/02/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Trưởng và ông Nguyễn Đức Nghị.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025, đối với Bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn S ;Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25/02/2008; tại huyện T, tỉnh Phú Thọ (thời điểm thực hiện hành vi Bị cáo được 16 tuổi 01 tháng 19 ngày).
Nơi cư trú: Khu Q, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ.Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn Í, sinh năm 1968 (đã chết) và bà: Hoàng Thị D, sinh năm 1970;Vợ: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không. Hiện đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người giám hộ cho Bị cáo: Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1970. Trú tại: Khu Q, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
Người bào chữa cho Bị cáo: Ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).
Người Bị hại: Cháu Hà Xuân T, sinh ngày 25/01/2009. Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người giám hộ cho cháu T: Anh Hà Văn Đ, sinh năm 1963. Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người bảo về quyền lợi ích cho Bị hại: Ông Bùi Đức D1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hà Thúy G, sinh năm 2001.Trú tại: Khu C, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
- Cháu Đinh Công Thái H, sinh năm 2009.Trú tại: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt). Người đại diện cho cháu Hoàng A Đinh Tiến D2, sinh năm 1986.Trú tại: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- Cháu Đinh Duy T1, sinh năm 2009.Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện cho cháu T1 anh Hà Đức K, sinh năm 1987.Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
- Cháu Hà Văn K1, sinh năm 2008.Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện cho cháu T1 anh Hà Văn H1, sinh năm 1983.Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
- Cháu Hà Tiến D3, sinh năm 2008.Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện cho cháu D3 chị Đinh Thị D4, sinh năm 1982.Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
- Cháu Hà Trần Quốc T2, sinh năm 2007.Trú tại: Khu D, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện cho cháu T2 chị Hà Thị H2, sinh năm 1989.Trú tại: Khu D, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
- Cháu Hà Trần H3, sinh năm 2009. Trú tại: Khu Đ, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện cho cháu H3 chị Đinh Thị Thanh H4, sinh năm 1987.Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
- Cháu Phùng Việt B, sinh năm 2007. Trú tại: Khu Q, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện cho cháu B anh Phùng Xuân T3, sinh năm 1977.Trú tại: Khu Q, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
a, Về hành vi phạm tội của Bị cáo: 12 giờ 30 phút ngày 14 tháng 04 năm 2024, Hà Xuân T, sinh năm 2009 cùng với Hà Tiến D3, sinh năm 2008, Hà Duy T4, sinh năm 2009, Hà Văn K1, sinh năm 2008 đều thường trú tại xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Đinh Công Thái H, sinh năm 2009, trú tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ rủ nhau đi lên bãi tắm thuộc xóm C, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ để chơi. Tại đây, nhóm của Hà Xuân T gặp một nhóm thanh niên gồm: Hà Văn S, sinh năm 2008, Phùng Việt B, sinh năm 2007 đều thường trú ở xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Hà Trần Quốc T2, sinh năm 2007, Hà Trần H3, sinh năm 2009 đều thường trú ở xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi thấy nhóm của Hà Xuân T là thanh niên lạ mặt và nghĩ là nhóm thanh niên xã V, huyện T trước kia đã xảy ra mâu thuẫn với mình, nên Hà Văn S có lời nói, chửi nhóm của Hà Xuân T rồi S bảo H3 là “Bọn này trước đánh anh”, nhưng nhóm của Hà Xuân T không phản ứng lại. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, sau khi chơi xong nhóm Hà Xuân T ra về. Thấy vậy, Hà Văn S đã điều khiển 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1-233.41, nhãn hiệu Honda - Wave anpha 110, rủ T2, H3 và Bắc dồn đuổi theo để đánh nhóm của T. Khi đi đến khu vực nhà điều hành của Ban Q thì nhóm của S vượt lên đi trước đến khu vực hồ sinh thái xã thuộc xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ và dừng lại, thì nhóm của Hà Xuân T đi qua, nên nhóm của Hà Văn S tiếp tục điều khiển xe dồn theo và vượt lên trước nhóm của T tại khu vực qua nhà văn hoá thuộc xóm C, xã K, huyện T thì dừng lại đợi nhóm của T đi qua để chặn lại đánh và Hà Văn S xuống xe nhặt 01 viên đá cứng chắc, có nhiều góc cạnh không rõ hình thù, có kích thước 10cm x 06cm x 05cm trên bề mặt có bám dính bụi đất ở cạnh lề đường bên phải theo hướng đi và T2 nhặt 01 viên đất có kích thước lớn hơn ngón tay cái của T2 với mục đích doạ cho nhóm Hà Xuân T sợ và dừng lại để đánh. Khi nhìn thấy nhóm của Hà Văn S muốn chặn đánh, nên Đinh Công T5 H điều khiển xe môtô chở Hà Văn K1 ngồi giữa và Hà Xuân T ngồi sau đi trước, còn xe môtô của Hà Tiến D3 và Hà Duy T4 đi sau và đi qua vị trí của nhóm Hà Văn S. Lúc này, thấy nhóm của Hà Xuân T không dừng lại, nên Hà Văn S cầm 01 viên đá đã nhặt lúc trước trên tay phải ném mạnh về phía xe Đinh Công T5 H đang đi trước và trúng vào vùng đầu bên phải của T (Tuế ngồi sau cùng) và T2 cầm 01 viên đất ném về hướng xe môtô của Hà Tiến D3 nhưng không trúng. Sau khi bị Hà Văn S ném viên đá trúng vào vùng đầu bên phải thì Hà Xuân T đã ngã nghiêng sang lề đường bên phải (theo hướng từ nhà văn hóa khu C1 đi Ủy ban nhân dân xã K), còn nhóm của Hà Văn S điều khiển xe môtô bỏ chạy khỏi hiện trường. Sau đó, Hà Xuân T được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Phú Thọ và Bệnh viện V để điều trị.
Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo đã khai nhận toàn bộ các hành vi của mình.
b, Các vấn đề khác của vụ án:
Sau khi sự việc xảy ra, cháu Hà Xuân T có đơn trình báo Công an xã K và Công an huyện T đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh hiện trường và lấy lời khai người làm chứng, người liên quan, thu giữ vật chứng, triệu tập đối tượng gây án để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Hà Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cố ý gây thương tích của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận của S phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu pháp lý khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Ngày 03/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số: 229 ngày 03/07/2024 đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể của cháu Hà Xuân T. Tại bản kết luận giám định số:105/KLTTCT/TTPY ngày 08/07/2004 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Hà Xuân T là 43% (Bốn mươi ba phần trăm).
Ngày 13/08/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hà Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
c, Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản cáo trạng số:05/CT-VKSTS ngày 07/01/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Hà Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a, c, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 98, 100 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 luật Tư pháp người chưa thành niên. Tuyên bố Bị cáo Hà Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt Bị cáo Hà Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày Bị cáo Hà Văn S đi chấp hành. Áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cứ trú đối với Bị cáo Hà Văn S cho đến khi Bị cáo đi chấp hành án theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật dân sự. Xác nhận ngày 30/9/2024 và ngày 01/12/2024 bà Hoàng Thị D là mẹ đẻ Bị cáo Hà Văn S tự nguyện bồi thường cho ông Hà Văn Đ là người đại diện hợp pháp cho anh Hà Xuân T số tiền 25.000.000đ nay ông Hà Văn Đ1 yêu cầu Bị cáo phải bồi thường tiếp 75.000.000đ. Bị cáo đồng ý theo yêu cầu của gia đình Bị hại, nên cần ghi nhận sự thỏa thuận này là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Hà Văn S sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn nên không phải chịu án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12, Điều 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) viên đá cứng chắc, có nhiều góc cạnh không rõ hình thù, có kích thước 10cm x 06cm x 05cm trên bề mặt có bám dính bụi đất đề nghị tịch thu tiệu hủy. Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 233.41, nhãn hiệu Honda - Wave Anpha 110, sơn màu trắng, đen, bạc đã cũ là của chị Hà Thùy G1 cho M đẻ chị là bà Hoàng Thị D quản lý, sử dụng. Khi S mang xe đi chơi dẫn đến hành vi phạm tội Mẹ đẻ của Bị cáo không biết nên trả lại chiếc xe mô trên cho bà Hoàng Thị D là phù hợp.
d, Quan điểm người bào chữa cho Bị cáo đề nghị: Đồng ý với điểm, khoản, Điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm mà Kiểm sát viên đã áp dụng thì Bị cáo là người Dân tộc nên ít nhiều ảnh hưởng đến nhận thức của Bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất.
đ, Quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho B1 hại đề nghị: Đồng ý với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với Bị cáo theo quy định của pháp luật.
e, Quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị: Hội đồng xét xử xem xét theo định của pháp luật.
f, Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận do bồng bột nên đã gây thương tích cho Bị hại là sai, nay được thành thật xin lỗi Bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo, người bào chữa cho Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà hôm nay, Bị cáo Hà Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của Bị hại cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 14/04/2024, tại đoạn đường thuộc khu C, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Hà Văn S, thường trú: xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi dùng 01 viên đá cứng chắc, có nhiều góc cạnh không rõ hình thù, có kích thước 10cm x 06cm x 05cm ném về phía xe của Đinh Công T5 H đang điều khiển trúng vào vùng đầu bên phải anh Hà Xuân T, sinh năm 2009, thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ gây tổn thương cơ thể cho anh T là 43%.
Thời điểm Bị cáo phạm tội đã trên 16 tuổi Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, nhưng do không kiềm chế, làm chủ được bản thân nên đã cố ý thực hiện. Hành vi của Bị cáo Hà Văn S đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a, c, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cụ thể:
"1...
a) Dùng hung khí nguy hiểm
c) Đối với người dưới 16 tuổi,
i) Có tính chất côn đồ;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”;
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Về tích chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân của Bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, chỉ vì thiếu kiềm chế trong lúc nóng giận nên đã gây thương tích cho Bị hại.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, Bị cáo đã tích cực tác động đến gia đình để hỗ trợ, bồi thường, khắc phục hậu quả do mình gây ra, đồng thời phía Bị hại đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Bị cáo. Vì vậy, cần cho Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần áp dụng khoản 2 Điều 179 luật tư pháp người chưa thành niên để xử lý hình sự đối với bị cáo S là người dưới 18 tuổi phạm tội dựa trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất, chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong vụ án này, Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; có 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 119 luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo không qua ba phần năm mức phạt tù mà điều luật quy định cũng phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bà Hoàng Thị D là mẹ đẻ Bị cáo bồi thường cho anh Hà Xuân T số tiền là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu đồng) nay anh T yêu cầu S phải bồi thường thêm số tiền là 75.000.000đ. Tại phiên tòa Bị cáo Hà Văn S đồng ý bồi thường cho Bị hại Hà Xuân T số tiền 75.000.000đ. Hội đồng xét xử xác nhận sự thỏa thuận này là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 viên đá cứng chắc có nhiều góc cạnh không rõ hình thù, có kích thước 10cm x 06cm x 05cm trên bề mặt có bám dính bụi đất cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 233.41, nhãn hiệu Honda - Wave Anpha 110, sơn màu trắng, đen, bạc đã cũ là của chị Hà Thùy G1 cho M đẻ chị là bà Hoàng Thị D quản lý, sử dụng. Khi S mang xe đi chơi dẫn đến hành vi phạm tội mẹ đẻ của Bị cáo không biết nên cần trả lại chiếc xe mô trên cho bà Hoàng Thị D là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo Hà Văn S sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn nên không phải chịu án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12, Điều 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị cáo, Người bị hại là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ kết tội, tội danh: Căn cứ điểm a, c, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 98, 100 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 luật Tư pháp người chưa thành niên. Tuyên bố Bị cáo Hà Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Trách nhiệm hình sự, hình phạt: Xử phạt Bị cáo Hà Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cứ trú đối với Bị cáo Hà Văn S cho đến khi Bị cáo đi chấp hành án theo quy định.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 590 Bộ luật dân sự. Công nhận sự thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe giữa Bị cáo Hà Văn S bồi thường thiệt hại cho anh Hà Xuân T số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Xác nhận ngày 30/9/2024 và ngày 01/12/2024 bà Hoàng Thị D là mẹ đẻ Bị cáo Hà Văn S tự nguyện bồi thường cho ông Hà Văn Đ là người đại diện hợp pháp cho anh Hà Xuân T số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) nay Bị cáo S còn phải bồi thường cho anh Hà Xuân T 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 viên đá cứng trắc có nhiều góc cạnh không rõ hình thù, có kích thước 10cm x 06cm x 05cm trên bề mặt có bám dính bụi đất. Trả lại cho bà Hoàng Thị D 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 233.41, nhãn hiệu Honda - Wave Anpha 110, sơn màu trắng, đen, bạc đã cũ.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12, Điều 14, 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hà Văn S được miễn toàn bộ án phí theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhân:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Chí |
Bản án số 04/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 04/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hình sự sơ thẩm Hà Văn S - Cố ý gây thương tích
