TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/02/2025 V/v: "Tranh chấp ly hôn và nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 217/2024/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/QÐST- HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ liên hệ: Số B đường số H, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Đ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kiều T trình bày: Giữa bà Nguyễn Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1994 nhưng đến năm 2012 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 27/11/2012. Trong thời gian khoảng vài năm đầu thì chung sống hạnh phúc bình thường, nhưng sau đó thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên uống rượu, về nhà đập đánh bà T. Vì thương con nên bà T cố gắng nhẫn nhịn nhưng ngày thì ông H càng đánh đập bà T nhiều hơn. Đến giữa năm 2023, bà T không chịu nổi nên phải đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và vợ chồng ông H, bà T đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Nay bà T nhận thấy không thể sống chung với ông Nguyễn Văn H được nữa nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông H, bà T có 03 con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh năm 1998, cháu Nguyễn Kiều An P, sinh năm 2001 và cháu Nguyễn Đăng Phục H1, sinh ngày 30/6/2013. (hiện đang sống chung với bà T). Khi ly hôn, bà T có nguyện vọng tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đăng Phục H1, sinh ngày 30/6/2013 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Riêng cháu K và An P thì đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
- Về cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều T tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Tại biên bản hòa giải ngày 13 tháng 11 năm 2024, bị đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông Nguyễn Văn H thống nhất với trình bày của nguyên đơn, vợ chồng ông H đã tự nguyện sống chung với nhau từ năm 1994 nhưng đến năm 2012 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 27/11/2012. Trong thời gian chung thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng. Trước đây thì ông H có đánh vợ nhưng vài năm trở lại đây thì ông H không còn đánh vợ nữa. Sự việc xảy ra vào cuối năm 2023 là do vợ chồng hiểu nhầm nên bà T đã bỏ nhà đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống từ cuối năm 2023 đến nay. Nay ông H vẫn thương bà T và hiện nay con cái đã lớn mà việc ly hôn vợ chồng làm ảnh hưởng đến tâm lý con cái nên ông H không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng vợ chồng ông H, bà T có 03 con chung là: cháu Nguyễn Đăng K, sinh năm 1998, cháu Nguyễn Kiều An P, sinh năm 2001 và cháu Nguyễn Đăng Phục H1, sinh ngày 30/6/2013. Nếu phải ly hôn thì ông H đồng ý giao cháu Nguyễn Đăng Phục H1, sinh ngày 30/6/2013 cho bà T chăm sóc nuôi dưỡng. Riêng cháu K và An P thì đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
- Về cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Theo quy định pháp luật.
* Đại diện VKSND huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng bà Nguyễn Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1994 nhưng đến năm 2012 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 27/11/2012. Trong thời gian khoảng vài năm đầu thì chung sống hạnh phúc bình thường, nhưng sau đó thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên uống rượu, về nhà đập đánh bà T. Đến giữa năm 2023, bà T không chịu nổi nên phải đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và vợ chồng ông H, bà T đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Do đó, bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông H là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử cần được chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Đăng Phục H1, sinh ngày 30/6/2013 cho bà T chăm sóc nuôi dưỡng. Riêng cháu K và An P thì đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa bà Nguyễn Thị Kiều T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1994 nhưng đến năm 2012 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 27/11/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.1] Theo lời trình bày của nguyên đơn thì trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên uống rượu, về nhà đập đánh bà T. Vì thương con nên bà T cố gắng nhẫn nhịn nhưng ngày thì ông H càng đánh đập bà T nhiều hơn. Đến giữa năm 2023, bà T không chịu nổi nên phải đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và vợ chồng ông H, bà T đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Do đó, bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2] Tại biên bản hòa giải ngày 13 tháng 11 năm 2024, bị đơn là ông Nguyễn Văn H thừa nhận là trước đây thì ông H có đánh bà T nhưng vài năm trở lại đây thì ông H không còn đánh vợ nữa. Đồng thời, ông H cũng thừa nhận là trong thời chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên bà T đã bỏ nhà đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống từ cuối năm 2023 đến nay.
[3.3] Xét lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhấn thấy: Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, đã xác định: Nguyên nhân là do ông H thường xuyên uống rượu, về nhà đập đánh bà T. Hành vi bạo lực gia đình của ông H đối với bà T đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T không chịu nổi mà bỏ nhà đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống từ cuối năm 2023 đến nay. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kiều T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
[4] Về con chung: Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 11/12/2024, cháu Nguyễn Đăng Phục H1, sinh ngày 30/6/2013 có nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với mẹ (bà T). Do đó, cần thiết giao cho bà Nguyễn Thị Kiều T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Đăng Phục H1, sinh ngày 30/6/2013 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Riêng cháu K và An P thì đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Về cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đây là ý chí tự nguyện của các bên đương sự, phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng Phục H1, sinh ngày 30/6/2013 cho bà Nguyễn Thị Kiều T chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- - Về cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều T phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0010959 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.
- Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đình Khương |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang được ly hôn với ông Nguyễn Văn Hiến. - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng Phục Hưng, sinh ngày 30/6/2013 cho bà Nguyễn Thị Kiều Trang chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
