TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/DS-ST
Ngày: 12-02-2025.
V/v: “Tranh chấp góp hụi”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đoàn Minh Hùng.
- Ông Nguyễn Văn Dễ.
– Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Xuân Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 168/2024/TLST-DS, ngày 14 tháng 10 năm 2024, việc “Tranh chấp góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-DS, ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Số A, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An. Có mặt.
2. Bị đơn:
2.1 Ông Trần Văn N, sinh năm: 1964. Vắng mặt.
2.2 Bà Phạm Thị L, sinh năm 1966. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số A tổ A, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Kim H trình bày như sau:
Do quen biết, bà có tham gia chơi hụi do bà Phạm Thị L và ông Trần Văn N làm chủ.
Ngày 10/7/2022, bà L và ông N mở 2 dây hụi 2.000.000đ/tháng, bà tham gia 2 dây và mỗi dây 2 phần, thỏa thuận ai bỏ thăm cao hốt, tiền hoa hồng là 1.000.000đ. Ông N, bà L có thu tiền hụi của bà. Sau khi ngưng hụi, giữa bà và bà L có chốt nợ hụi với nhau. Bà L xác định còn nợ số tiền hụi là 140.000.000đ hẹn trả làm 2 đợt ngày 30/01/2024 và ngày 30/02/2024.
Sau đó, bà L có trả cho bà nhiều lần được số tiền 33.500.000đ, còn nợ 106.500.000đ. Nay bà yêu cầu bà Phạm Thị L và ông Trần Văn N hoàn trả số tiền hụi còn nợ là 106.500.000đ, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Phạm Thị L và ông Trần Văn N vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
Tại phiên tòa: Đương sự có mặt trình bày đã cung cấp đủ các chứng cứ, không cung cấp chứng cứ gì thêm đồng thời vẫn giữ ý kiến và yêu cầu của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Trần Thị Kim H khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị L và ông Trần Văn N trả số tiền hụi còn nợ nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là góp hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Bà L, ông N có địa chỉ tại xã Đ, huyện T, tỉnh Long An nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi còn nợ là 106.500.000đ. Nguyên đơn có cung cấp giấy viết tay có nội dung: “Tôi tên Phạm Thị L 1966. Tôi có thiếu Trần Thị Kim H 4 phần hụi 2.000.000 số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu đồng) tôi sẽ trả 2 phần ngày 30-1-2024 trở lại, còn 2 phần tôi sẽ trả dần ngày 30-2-2024” có chữ ký của bà Phạm Thị L. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt cho bà L và ông N thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Trong các văn bản này Tòa án đã nêu rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã nộp nhưng bà L, ông N không có ý kiến phản đối gì. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, ... mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, có căn cứ xác định hiện bà L, ông N còn nợ số tiền hụi của bà H. Căn cứ Điều 6 Bộ Luật Tố tụng dân sự đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Bà H xác định bà L có trả số tiền 33.500.000đ, hiện còn nợ số tiền 106.500.000đ. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H. Buộc bà Phạm Thị L và ông Trần Văn N phải trả số tiền còn nợ là 106.500.000đ cho bà Trần Thị Kim H.
[4] Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471, Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim H về việc “tranh chấp góp hụi” với bà Phạm Thị L và ông Trần Văn N.
1.1 Buộc bà Phạm Thị L và ông Trần Văn N phải trả cho bà Trần Thị Kim H số tiền hụi còn nợ là 106.500.000đ (Một trăm lẻ sáu triệu, năm trăm nghìn đồng).
1.2 Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1 Bà Phạm Thị L và ông Trần Văn N phải chịu số tiền 5.325.000đ (Năm triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí sung vào ngân sách nhà nước.
2.2. Hoàn trả cho bà Trần Thị Kim H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.662.500đ (Hai triệu, sáu trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai số 0009710 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thoa |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An về tranh chấp góp hụi
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim H "góp hụi" Trần Văn N
