|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-02-2025 V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Não Thiên Minh Trí và bà Nguyễn Thị Đan Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà: Ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/01/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm: 1986 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị L trình bày: Bà với ông Nguyễn Thanh L1 tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T vào năm 2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 01/4/2013. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn do ông L1 đi làm xa, không quan tâm chăm sóc con cái cùng với bà. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh L1 đã bỏ đi làm ăn xa không liên lạc về với bà và các con. Nay bà xét thấy vợ chồng không còn tình cảm nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông L1.
- Về con chung: Bà ông Nguyễn Thanh L1 có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Thanh L2, sinh ngày 28/01/2013 và Nguyễn Phạm Trúc L3, sinh ngày 15/3/2016. Hiện nay các con đang sống cùng với bà, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi các con và yêu cầu anh ông Nguyễn Thanh L1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng/02 con
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L1 trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ nhưng ông Nguyễn Thanh L1 không đến Toà án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị L, bà L được ly hôn ông L1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Thanh L1; ông Nguyễn Thanh L1 có nơi cư trú tại thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.
[2]. Về việc vắng mặt của các đương sự:
- Nguyên đơn bà Phạm Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thanh L1.
- Bị đơn ông Nguyễn Thanh L1 đã được Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông L1.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Thanh L1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2013, ngày 01/4/2013. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Thanh L1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
[3.2]. Về tình trạng hôn nhân: Bà Phạm Thị L trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 xảy ra mâu thuẫn do ông L1 đi làm xa không chăm sóc vợ con, không thường xuyên đưa tiền cho bà nuôi dạy con cái nên làm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn sống chung từ năm 2022 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục niêm yết theo quy định nhưng ông L1 không đến Toà, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu của ông L1. Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa bà L và ông L1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị L. Bà Phạm Thị L được ly hôn ông Nguyễn Thanh L1
[3.3]. Về con chung: Bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Thanh L1 có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Thanh L2, sinh ngày 28/01/2013 và Nguyễn Phạm Trúc L3, sinh ngày 15/3/2016. Hiện nay các con đang sống cùng với bà L. Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi các con là phù hợp với nguyện vọng của các con và đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận.
[3.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thị L yêu cầu ông Nguyễn Thanh L1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng/mỗi con là 1.500.000 đồng, tổng là 3.000.000đ/mỗi tháng/02 con. Căn cứ theo Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, bà L yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con là đúng theo quy định. Xét thấy, ông L1 làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, do đó để đảm bảo góp phần tương đối vào chi phí thực tế ăn uống, học tập của mỗi cháu trong 01 tháng thì cả bà L và ông L1 đều có nghĩa vụ đối với con cái, nên Hội đồng chấp nhận yêu cầu của bà L, buộc ông L1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/tháng/con, tổng mức cấp dưỡng mỗi tháng/02 con là 3.000.000 đồng. Ông L1 có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hàng tháng cho bà L kể từ tháng 3/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được. Căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, ông L1 có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 2 Điều 12; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do bà Phạm Thị L là người khuyết tật nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thanh L1 phải chịu án phí về việc cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L được ly hôn ông Nguyễn Thanh L1.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Phạm Thanh L2, sinh ngày 28/01/2013 và Nguyễn Phạm Trúc L3, sinh ngày 15/3/2016 cho bà Phạm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Nguyễn Thanh L1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà Phạm Thị L mỗi tháng là 1.500.000đ/con, tổng 02 con/tháng là 3.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 3/2025 đến khi các con chung đủ 18 tuổi, lao động được.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị L. Buộc ông Nguyễn Thanh L1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Khánh Hưng |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. cho ly hôn
