Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày: 07 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham

gia phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với:

Bị cáo Đỗ Mạnh T, sinh ngày 04 tháng 03 năm 2004 tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi ĐKHKTT: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện nay: Số nhà A, ngõ G ngách H hẻm A đường A, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Lâm B và bà Lê Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 03/10/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay; “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Ngọc D, sinh năm 2001; nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; “vắng mặt”.

- Người chứng kiến:

+ Anh Bùi Quốc H, sinh năm 1975, nơi cư trú: Phố K, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình “Vắng mặt”.

+ Bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1968, nơi cư trú: Phố K, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Mạnh T là lao động tự do trên địa bàn thành phố Hà Nội, do không có công việc ổn định nên T vào các trang mạng xã hội để tìm người muốn thuê chở hàng dịch vụ bằng xe mô tô. Ngày 29/9/2024 thấy có người sử dụng tài khoản Facebook tên “Huy Nam H1” đăng nội dung “Cần người giao hàng với giá 03 triệu đồng trên 01 chuyến” nên T đã nhắn tin trao đổi nội dung giao hàng. Sau nhiều lần nói chuyện người này có nhờ T mua hộ 10 giàn pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất rồi sử dụng tài khoản Zalo tên “Thành Chung” nhắn tin vào tài khoản Zalo của T có tên là “T” và chuyển cho Tú tài khoản Zalo của một người khác tên là “T” nhờ T hỏi hộ giá pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất. T đồng ý nên đã liên lạc với tài khoản Zalo tên “Thái Mèo” hỏi giá mua 10 bệ pháo và được người này chụp ảnh các bệ pháo, gửi lại cho T xem với giá bán là 500.000 đồng/bệ, nếu đồng ý mua thì sẽ giao pháo cho T tại thành phố N. Sau khi trao đổi lại nội dung trên với Z tên “Thành Chung” thì được người này đồng ý thuê T đi lấy pháo từ “Thái Mèo” rồi vận chuyển về thành phố P, tỉnh Hà Nam với số tiền công 3.000.000 đồng, T đồng ý. Sáng ngày 01/10/2024 T điều khiển xe mô tô đi từ phường Y, quận T, thành phố Hà Nội về thành phố N để gặp “Thái Mèo”. Trên đường đi “T” nhắn tin cho T nói kiểm tra lại còn 07 bệ pháo loại 36 không đủ 10 bệ như T đã đặt và nói T đến lấy tạm. Khoảng 10 giờ 30 phút T đến địa điểm đã hẹn gặp một nam thanh niên, người này nhận là “T” và dẫn T đi vào khu vực nghĩa trang C Quốc lộ A khoảng 100 m rồi xuống xe bê 01 thùng cát tông để bên đường lên rồi rạch nắp thùng cho T kiểm tra, T thấy trong thùng có 07 khối hình hộp chữ nhật, vỏ ngoài nhiều hoa văn, màu sắc khác nhau có chữ nước ngoài đúng như hình ảnh người này đã gửi cho T. Xác định đúng số pháo nổ mà T đã đặt mua nên T trao đổi với “Thành Chung” thì người này nói T lấy số tài khoản của người bán để chuyển tiền. T lấy thông tin tài khoản chuyển cho “Thành Chung” còn “Thái M” đưa số tài khoản cho T rồi bỏ đi. “Thành Chung” yêu cầu T gửi hình ảnh pháo để ở trên xe mô tô của T thì mới tin tưởng để chuyển khoản tiền công cho T. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày khi T bê thùng cát tông bên trong có chứa pháo nổ đặt lên yên xe mô tô để chụp ảnh, lúc này tổ công tác Công an thành phố N phối hợp với Công an phường N tuần tra tại khu vực đường T, phố K, phường N, thành phố N thấy T có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Thời điểm kiểm tra Đỗ Mạnh T không xuất trình được hóa đơn, giấy tờ chứng minh nguồn gốc các khối hình hộp này nên đã lập biên bản, yêu cầu T và mời những người có liên quan cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an thành phố N làm việc. Ngoài ra còn thu giữ của Đỗ Mạnh T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen bạc, biển kiểm soát 19F1-392.93; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13pro Max, mặt lưng màu vàng, lắp sim số 0986.057.171; 07 khối hình hộp là pháo nổ đều có đặc điểm và kích thước giống nhau, bên ngoài được bọc giấy màu bạc, một mặt được bọc giấy màu vàng, có in nhiều hình ảnh, màu sắc, chữ nước ngoài kích thước 15x15x14,5cm và 01 tờ giấy có ghi nội dung “Gửi em T SĐT 0986.057.xxx anh còn dàn pháo Trung Quốc loại 36 quả gửi em".

Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng của toàn bộ 07 khối hình hộp trên, kết quả tổng khối lượng là 10,3kg.

Tại bản kết luận số 1686/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7 đều là pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Khối lượng các mẫu lần lượt là M1: 1,454 kg; M2: 1,477 kg; M3: 1,527 kg; M4: 1,480 kg; M5: 1,473 kg; M6: 1,455 kg; M7: 1,448 kg.

H2 lại đối tượng giám định: 07 hộp pháo nổ ký hiệu từ M1 đến M7 có tổng khối lượng 10,157 kg cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N (đã trích giữ lại giám định 02 quả trong mỗi hộp)

Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKSTPNB ngày 14 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) đã truy tố để xét xử bị cáo Đỗ Mạnh T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Mạnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố.

Quá trình điều tra, tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Ngọc D khai: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19F1-39293 nhãn hiệu Honda Wave mầu đen bạc là tài sản của anh, do anh mua vào đầu năm 2022, giấy tờ đăng ký mang tên Đỗ Ngọc D. Đến cuối năm 2022, anh D mua chiếc xe mới, không sử dụng chiếc xe này nữa nên cho em trai là Đỗ Mạnh T sử dụng phục vụ việc đi học và chạy xe công nghệ. Anh D không biết việc T sử dụng xe để vận chuyển pháo nổ vào ngày 01/10/2024. Quá trình điều tra, anh đã được trả lại chiếc xe mô tô trên nên không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Người chứng kiến ông Bùi Quốc H, bà Đoàn Thị T1 khai: Khoảng hơn 10 giờ sáng ngày 01/10/2024, tại ngõ D phố K, phường N, thành phố N thấy lực lượng công an đang kiểm tra 01 nam thanh niên đứng bên cạnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, mầu đen, biển kiểm soát 19E1-392.93 đang để dưới lòng đường sát vỉa hè, cách nhà văn hoá phố K, phường N, trên yên xe có 01 thùng cát tông. Nam thanh niên khai nhận là Đỗ Mạnh T, bên trong thùng cát tông chứa 07 dàn pháo hoa nổ của nước ngoài sản xuất, số pháo hoa này T mua hộ cho người không quen biết trên mạng xã hội, đang chuẩn bị vận chuyển cho người này lấy tiền công 3.000.000 đồng. Cơ quan công an đã tạm giữ, niêm phong 01 thùng cát tông nói trên, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda mầu đen.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt Đỗ Mạnh T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ theo dõi, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 136, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, mặt lưng màu vàng, lắp sim số 0986.057.171. Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng cát tông kích thước khoảng (23,5 x 23,5 x 23) cm bên trong có: 07 hộp pháo nổ (pháo hoa nổ) cùng loại, mỗi hộp có kích thước khoảng (15 x 15 x 14,5) cm, bên ngoài bọc giấy có in nhiều hình ảnh, mầu sắc, chữ nước ngoài.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải nộp án phí 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đỗ Mạnh T trình bày nhất trí với nội dung luận tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo Đỗ Mạnh T đề nghị Tòa án xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Mạnh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến, biên bản làm việc ngày 01/10/2024, kết luận giám định ngày 03/10/2024, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 01/10/2024 tại khu vực đường T, phố K, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Đỗ Mạnh T đã có hành vi vận chuyển trái phép 07 hộp pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất có tổng khối lượng 10,314 kg. Bị cáo Đỗ Mạnh T là người có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ pháo nổ là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; việc vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

“Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

c. Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam

...”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo Đỗ Mạnh T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật.

[2] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực quản lý việc sản xuất, buôn bán hàng cấm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung. Xét thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhân thân chưa từng vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục cải tạo, tạo điều kiện cho bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng...” do đó bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Do bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 07 hộp pháo hoa nổ là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, mặt lưng màu vàng, lắp sim số 0986.057.171 đã qua sử dụng là tài sản của T được T sử dụng để liên lạc, thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen bạc, biển kiểm soát 19F1-392.93, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Đỗ Ngọc D, anh D không biết T sử dụng xe để đi vận chuyển hàng cấm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe trên cho anh D là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 tờ giấy ghi nội dung “Gửi em T SĐT 0986.057.xxx anh còn dàn pháo Trung Quốc loại 36 quả gửi em” được chuyển theo hồ sơ để giải quyết cùng vụ án.

[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[5] Những vấn đề khác có liên quan đến vụ án:

Đối với số tài khoản 0975555688 của ngân hàng M1 của Thái M gửi cho T, quá trình xác minh tại ngân hàng xác định số tài khoản này hiện tại không có trên hệ thống nên không có căn có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với người có sử dụng mạng xã hội Zalo có tên “Thành Chung”, quá trình điều tra xác định, T liên lạc trao đổi nhắn tin, gọi người này qua mạng xã hội, không liên lạc trực tiếp bằng số điện thoại. Sau khi trao đổi xong các tin nhắn đã bị thu hồi, bản thân T chưa gặp người này, không có thông tin tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh làm rõ.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo:

Do bị tuyên có tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Mạnh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  2. Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án (07/02/2025).

    Giao bị cáo Đỗ Mạnh T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ theo dõi, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi làm việc, nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, mặt lưng màu vàng, lắp sim số 0986.057.171.

    Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng cát tông kích thước khoảng (23,5 x 23,5 x 23) cm bên trong có: 07 hộp pháo nổ (pháo hoa nổ) cùng loại, mỗi hộp có kích thước khoảng (15 x 15 x 14,5) cm, bên ngoài bọc giấy có in nhiều hình ảnh, mầu sắc, chữ nước ngoài.

    (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2024 và ngày 18/12/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình)

  4. Án phí: Buộc bị cáo Đỗ Mạnh T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND TP Hoa Lư (1);
  • - Công an TP Hoa Lư (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP Hoa Lư (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Người có QLNV liên quan (1);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM DIỆU OANH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về vận chuyển hàng cấm (hình sự)

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 01/10/2024 ; Đỗ Mạnh T đã có hành vi vận chuyển trái phép 07 hộp pháo hoa nổ do nước ngoài sản xuất có tổng khối lượng 10,314 kg.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger