|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 02 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Văn Hòa.
Ông Lâm Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Thành G, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
(Anh G yêu cầu xét xử vắng mặt; chị L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 10 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Ngô Thành G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh G và chị L kết hôn năm 2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng ngày 29-01-2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, không còn chung sống với nhau. Anh G nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với chị L.
Về con chung: Thời gian chung sống, anh G, chị L có con chung tên Ngô Anh T, sinh ngày 16-10-2007 và Ngô Đức A, sinh ngày 14-01-2012. Các con chung hiện đang sống cùng với Anh G. Sau khi ly hôn, anh G yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh G trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
- Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị L:
Chị L đã được cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, không có văn bản tường trình ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của anh G.
- Tại Tờ trình bày nguyện vọng ngày 28 tháng 11 năm 2024, cháu Ngô Anh T, Ngô Đức A trình bày:
Cháu T, cháu A hiện đang sống cùng với anh G. Nguyện vọng của cháu T, cháu A là được sống cùng với anh G vì anh G yêu thương, chăm sóc chu đáo; không muốn sống với chị L vì chị L ít khi thăm nom, chăm lo cho các cháu.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt các phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh G, cụ thể: Anh G được ly hôn với chị L. Giao con chung tên Ngô Anh T, sinh ngày 16-10-2007 và Ngô Đức A, sinh ngày 14-01-2012 cho anh G nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh G không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, anh G trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, chị L không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn anh Ngô Thành G khởi kiện yêu cầu được ly hôn, nuôi con với bị đơn chị Nguyễn Thị L. Chị Nguyễn Thị L cư trú tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, anh G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị L vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh G và chị L tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11, quyển số I, ngày 29-01-2007. Tại thời điểm kết hôn, anh G, chị L đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 9, 10, 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên quan hệ hôn nhân giữa anh G, chị L được pháp luật công nhận.
[4] Xét yêu cầu ly hôn của anh G, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn anh G, chị L chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, do anh chị không có tiếng nói chung, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, không còn chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh G, chị L tham gia hòa giải đoàn tụ nhưng chị L vắng mặt. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh G, chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh G yêu cầu được ly hôn với chị L là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về con chung: Theo Giấy khai sinh số: 241/2007, đăng ký ngày 02-11-2007 và Giấy khai sinh số: 29/2012, đăng ký ngày 08-02-2012, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng: Anh G, chị L có con chung tên Ngô Anh T (giới tính: Nam), sinh ngày 16-10-2007 và Ngô Đức A (giới tính: Nam), sinh ngày 14-01-2012. Hội đồng xét xử xét thấy, các con chung hiện đang sống cùng anh G, cuộc sống đã ổn định và có nguyện vọng được sống cùng với anh G, chị L không có ý kiến đối với yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của anh G. Để đảm bảo cuộc sống của con chung được ổn định, cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, giao các con chung tên Ngô Anh T, Ngô Đức A cho anh G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Như vậy, yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung của anh G là có căn cứ chấp nhận.
[6] Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 1 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và Khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Theo quy định này, chị L là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung được sống với anh G. Đồng thời, chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này, chị L là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, anh G không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Anh G trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Chị L không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
[9] Như đã nhận định, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[10] Về án phí sơ thẩm: Anh G là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng.
[11] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Thành G được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
- Về con chung: Giao con chung tên Ngô Anh T (giới tính: Nam), sinh ngày 16-10-2007 và Ngô Đức A (giới tính: Nam), sinh ngày 14-01-2012 cho anh Ngô Thành G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Ngô Thành G không yêu cầu chị Nguyễn Thị L phải cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Ngô Thành G trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Chị Nguyễn Thị L không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Ngô Thành G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0005801ngày 30-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Anh Ngô Thành G đã nộp xong án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
