Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày 06-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Năng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khương và Ông Nguyễn Thành Thái

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn G, sinh ngày 27/02/2003 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh K; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Vợ con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự có 02 tiền sự: Ngày 22/01/2024 bị Công an thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng; Ngày 17/05/2024 bị cáo tiếp tục bị Công an thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 2.000.000 đồng (tất cả đã nộp phạt xong); Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người tham gia tố tụng khác: Chị Lê Thị Bé N, là người làm chứng (vắng mặt).

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn G là người thường xuyên sử dụng ma tuý. Vào ngày 07 tháng 9 năm 2024, G được một người bạn tên Vĩ (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đưa cho 300.000 đồng đi mua ma tuý về sử dụng chung. Sau đó, G một mình đi ra khu vực phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá để tìm người đàn ông tên Hia (G không biết họ tên địa chỉ) để mua ma tuý. Khi ra đến khi vực Rạch Sỏi (G không nhớ địa điểm), G gặp Hia và hỏi mua 300.000 đồng ma tuý, mục đích mua về sử dụng. Người này bán cho G một bịch ma tuý, G trả cho người này 300.000 đồng. Sau khi mua được bịch ma tuý G cất giấu trong túi quần jean phía trước, bên phải rồi đi đến nhà nghĩ “Hoài Thương” thuộc ấp Sua Đũa, xã Vĩnh Hoà Hiệp, huyện Châu Thành để thuê phòng sử dụng ma tuý.

Lúc này, khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày. Khi G đang ở khu vực lễ tân của nhà nghĩ “Hoài Thương” thì bị lực lượng Công an bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Khám xét và thu giữ trong túi quần Jean phía trước bên phải mà G đang mặc 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín hai đầu có kích thước 1,2 x 2,7cm theo lời khai của G là chất ma tuý. Cơ quan Công an đã niêm phong tang vật theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số: 963/KL-KTHS, ngày 13/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên G kết luận: Nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1908 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CĐ, ngày 25/8/2022 của chính phủ.

Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKS-CT ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Châu Thành áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ trong vụ án.

3

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, thể hiện: Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 07/9/2024 tại nhà nghĩ “Hoài Thương” thuộc ấp Sua Đũa, xã Vĩnh Hoà Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang lực lượng Công an phát hiện Nguyễn Văn G có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra thì phát hiện G đang tàng trữ 0,1908 gam ma tuý loại Methamphetamine trong túi quần phía trước bên phải của G đang mặc nên lập biên bản phạm tội quả tang. Đối chiếu theo quy định pháp luật thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma tuý là vật cấm tàng trữ và lưu hành nhưng do nghiện ma tuý và để có ma tuý sử dụng bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý lén lút tìm mua 0,1908 gam ma tuý loại Methamphetamine để tàng trữ sử dụng thì bị phát hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà hành vi này còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, cần xử lý nghiêm bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

4.1 Xét về tình tiết tăng nặng và nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên qua hồ sơ thể hiện bị cáo là

4

người có nhân thân xấu vì đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên khi lượng hình cần có mức án tương xứng với bị cáo mới là thoả đáng.

4.2 Xét về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét hình phạt cho bị cáo khi lượng hình là có căn cứ pháp luật.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[6] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau khi giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Trần Hồng Lạc và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1750 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 988/2024. Đây là vật cấm tàng trữ và lưu hành nên cần xử tịch thu tiêu huỷ theo quy định pháp luật.

[7] Về những vấn đề khác: Đối với các đối tượng tên Hia và Vĩ theo lời khai của bị cáo thì Hia và Vĩ là người bán và đưa tiền cho bị cáo mua ma tuý. Tuy nhiên do chưa xác định được nhân thân lai lịch của 02 đối tượng trên nên chưa làm việc được trong vụ án này. Do đó, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nếu có dấu hiệu tội phạm sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/9/2024.
  3. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

5

  1. Về biện pháp tư pháp áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã được thu giữ trong vụ án theo Quyết định chuyển giao vật chứng số: 02/QĐ-VKS-CT ngày 18/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

    Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhân:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công An huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa

Cao Văn Năng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn G phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger