TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:04/2025/DS-ST
Ngày 24/01/2025
V/V: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Quyên
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư
Bà Nguyễn Thị Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Tống Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 24/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 126/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST - DS ngày 23/12/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS ngày 09/01/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1976 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1969 (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ thường trú: Số nhà A, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ nơi ở: Số A, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Chị Vũ Thị L, sinh năm 1979 (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai, biên bản hoà giải nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Q trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 30/4/2022, bà Trần Thị C có đến nhà anh tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang đặt vấn đề vay tiền. Vì là bạn bè lâu năm nên anh đồng ý cho bà C vay số tiền 690.000.000 đồng. Mục đích bà C vay tiền theo như bà C nói là để đáo hạn ngân hàng và đầu tư kinh doanh. Khi vay, tự tay bà chung viết, ký tên trên giấy biên nhận vay tiền đề ngày 30/4/2022, mẫu giấy vay tiền là do anh in từ máy tính đưa cho bà C. Khi cho vay, hai bên có thoả thuận về thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất 1%/01 tháng. Sau khi viết giấy vay anh đã đưa tiền cho bà C. Hết thời hạn 01 tháng không thấy bà C trả tiền, anh có gọi điện thúc giục nhiều lần và cũng trực tiếp tìm gặp bà C nhưng bà C vẫn không trả tiền cho anh. Thời điểm bà C vay tiền anh thì chồng bà C là ông Ngô Ngọc G, sinh năm 1958, địa chỉ tại thôn Q, xã N, huyện T không biết việc vay mượn trên. Đến cuối năm 2023 thì anh được biết vợ chồng bà C đã ly hôn. Hiện nay bà C ở đâu thì anh không nắm được. Nay anh yêu cầu bà C phải có trách nhiệm trả cho anh số tiền gốc 690.000.000 đồng, anh không yêu cầu tính lãi và không yêu cầu ông G có trách nhiệm liên đới vì ông G không biết việc vay mượn. Anh xác định số tiền cho bà C vay là tiền của riêng anh, không phải tài sản chung vợ chồng nên đề nghị Toà án không đưa vợ anh là chị Vũ Thị L vào tham gia tố tụng.
Bị đơn bà Trần Thị C đã được niêm yết triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà C không đến Tòa án làm việc, không có bản tự khai trình bày ý kiến, không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa. Việc bà C không đến Tòa án làm việc là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị L trình bầy: Việc chồng chị cho bà Trần Thị C vay tiền như thế nào thì chị không nắm được. Sau này thì chị mới được chồng chị nói chuyện lại có cho bà C vay số tiền 690.000.000 đồng. Chị xác định số tiền anh Q cho bà C vay là tiền riêng của anh Q, không liên quan đến chị. Nay anh Q yêu cầu bà C trả anh Quân số tiền 690.000.000 đồng chị đề nghị Toà án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho anh Q. Chị đề nghị Toà án không đưa chị vào tham gia tố tụng trong vụ án. Trường hợp Toà án đưa chị vào tham gia tố tụng chị đề nghị được vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết, xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 04/12/2024, anh Q có đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ” đối với khoản tiền 57.075.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Ngày 06/12/2024, Toà án ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ” theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Tố tụng dân sự đối với tài sản là số tiền 57.057.000 đồng tại tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang do bà Trần Thị C, sinh năm 1969, địa chỉ: Số A, đường N, phường N, thành phố B được trả lại theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 54/2024/QĐST – HNGĐ ngày 18/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên.
Tại biên bản xác minh ngày 11/10/2024, ông Đỗ Văn T, tổ trưởng tổ dân phố số I, phường N, thành phố B cung cấp như sau: Bà Trần Thị C hiện không còn cư trú tại số nhà A, đường N, tổ I, phường N, thành phố B. Địa chỉ số nhà A, đường N là của người khác quản lý, bà C chỉ thuê lại để ở. Khoảng cuối năm 2023, bà C không còn ở số nhà A, đường N. Khi chuyển đi bà C cũng không khai báo với tổ dân phố là đi đâu, làm gì nên hiện tổ dân phố không nắm được bà C đi đâu và khi nào thì quay trở lại.
Tại biên bản làm việc ngày 14/10/2024, ông Đỗ Trọng T1, tổ trưởng tổ dân phố H, phường T, thành phố B cung cấp như sau: Bà Trần Thị C đăng ký hộ khẩu thường trú tại số D, đường N, phường T khoảng những năm 1990. Trước đây, số 46, đường N là địa chỉ của Đ truyền thanh cũ, sau đó chuyển cho phường T quản lý và xây dựng nhà văn hóa tổ H. Bà C vẫn để lại hộ khẩu thường trú tại địa chỉ này mà không thấy khai báo chuyển đi đâu khác. Tuy nhiên, bà C ở đâu, làm gì không khai báo với chính quyền địa phương và hiện tại cũng không ở tổ dân phố H. Do vậy, khi nào bà C quay lại địa phương thì tổ dân phố không nắm được.
Tại công văn số 167/QLXNC ngày 13/01/2025, Phòng QL – Công an tỉnh B cung cấp như sau: Qua tra cứu đến nay Phòng quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh B chưa có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh của bà Trần Thị C, sinh năm 1969, số CCCD: [...], địa chỉ thường trú: Số D, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Q có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà. Bị đơn bà Trần Thị C đã được niêm yết triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Hội đồng xét xử công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt là chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463; Điều 465; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Q. Buộc bà Trần Thị C có trách nhiệm thanh toán trả anh Nguyễn Tiến Q số tiền 690.000.000 đồng (Sáu trăm chín mươi triệu đồng).
- Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2024/QĐ-BPKCTT ngày 06/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang về việc “Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ” để đảm bảo công tác thi hành án.
- Về án phí: Bà Trần Thị C phải chịu 31.600.000 đồng tiền án phí DSST. Hoàn trả anh Quân số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ anh Nguyễn Tiến Q đã nộp hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đầy đủ, đúng pháp luật.
[2]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 30/4/2022, anh Nguyễn Tiến Q cho bà Trần Thị C vay số tiền 690.000.000 đồng. Ngày 17/7/2024, anh Q khởi kiện yêu cầu bà C trả anh số tiền trên tại Toà án nhân dân huyện Tân Yên. Ngày 24/9/2024, Toà án nhân dân huyện Tân Yên có Quyết định chuyển vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 11/10/2024, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý đối với vụ án chuyển thẩm quyền nêu trên. Do vậy, về thời hiệu khởi kiện là đảm bảo theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
[3]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Tiến Q khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị C phải thanh toán trả anh số tiền gốc đã vay là 690.000.000 đồng nên cần xác định đây là quan hệ pháp luật về tranh chấp dân sự, cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn bà Trần Thị C có địa chỉ nơi ở tại số A, đường N, phường N, thành phố B và hộ khẩu thường trú tại số D, đường N, phường T, thành phố B nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
[4] Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị L xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Trần Thị C đã được thông báo, niêm yết triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tiến Q, bà Trần Thị C, chị Vũ Thị L là phù hợp quy định pháp luật.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Q yêu cầu bà Trần Thị C phải thanh toán trả anh số tiền gốc theo giấy vay tiền ngày 30/4/2022. Hội đồng xét xử xét thấy:
[5.1] Giữa anh Q và bà C có mối quan hệ quen biết nhau từ trước. Ngày 30/4/2022, anh Nguyễn Tiến Q có cho bà Trần Thị C vay số tiền 690.000.000 đồng. Anh Q xác định giấy biên nhận vay tiền ngày 30/4/2022 là do bà C trực tiếp viết và ký. Anh Q cũng đã cung cấp được bản gốc giấy biên nhận vay tiền trên nên đây là tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của anh Q là có căn cứ. Việc bà C đã được niêm yết triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu chứng cứ là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Q về số tiền gốc theo giấy biên nhận vay tiền ngày 30/4/2022 là 690.000.000 đồng và buộc bà C phải thanh toán trả anh Quân số tiền gốc trên.
[5.2] Về số tiền lãi: Anh Q không yêu cầu bà C phải trả anh tiền lãi. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét về tiền lãi trong vụ án này.
[5.3] Đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2024/QĐ-BPKCTT ngày 06/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang về việc “Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ” theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Tố tụng dân sự đối với tài sản là số tiền 57.057.000 đồng tại tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang do bà Trần Thị C, sinh năm 1969, địa chỉ: Số A, đường N, phường N, thành phố B được trả lại theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 54/2024/QĐST – HNGĐ ngày 18/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên cần tiếp tục duy trì để đảm bảo công tác thi hành án.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của anh Q được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Hoàn trả anh Quân số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 465; Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Q. Buộc bà Trần Thị C có trách nhiệm thanh toán trả anh Nguyễn Tiến Q số tiền gốc 690.000.000 đồng (Sáu trăm chín mươi triệu đồng).
- Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2024/QĐ-BPKCTT ngày 06/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang về việc “Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ” đối với tài sản là số tiền 57.057.000 đồng tại tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang do bà Trần Thị C, sinh năm 1969, địa chỉ: Số A, đường N, phường N, thành phố B được trả lại theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 54/2024/QĐST – HNGĐ ngày 18/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên.
- Về án phí: Bà Trần Thị C phải chịu 31.600.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Nguyễn Tiến Q số tiền tạm ứng án phí 15.800.000 đồng theo biên lai thu số 0006988 ngày 17/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt án hợp lệ.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - VKS TP Bắc Giang,
- - CCTHA dân sự TP Bắc Giang,
- - CCTHA dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- - Các đương sự,
- - Lưu HS, VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lương Thị Thanh Quyên |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Tiến Q khởi kiện chị Trần Thị C
