|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/DS-ST
Ngày: 24/01/2025
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Văn Dậu, bà Nguyễn Thị Hà.
- - Thư ký phiên toà: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 95/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Công ty Cổ phần M (Viết tắt là Công ty M); Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I, D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T – Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1 – Trưởng phòng Xử lý nợ miền B; Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Văn T2 – Chuyên gia Xử lý nợ. (Có mặt)
- Ngân hàng TMCP V (Viết tắt là Ngân hàng V1); Địa chỉ: Tòa nhà V, số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L – Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý; Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn N – Chuyên viên Xử lý nợ Phòng XLN KHCD MB02. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh N1, sinh năm 1993; Trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; Trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, đại diện Công ty Cổ phần M (Công ty M) và Ngân hàng TMCP V (Ngân hàng V1) trình bày:
Vào ngày 09/5/2022 giữa Ngân hàng TMCP V (viết tắt là Ngân hàng V1) chi nhánh K và ông Nguyễn Mạnh N1 đã ký Hợp đồng cho vay số LN2201095049697 với giá trị hạn mức tín dụng là 5.800.000.000 đồng. Mục đích sử dụng vốn vay: Vay hoàn vốn mua BĐS có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấy số CH082361 theo tờ bản đồ số 28, thửa đất số 326 tại địa chỉ thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thời hạn vay 300 tháng. Lãi suất cho vay: Tại thời điểm giải ngân là 9,9%/năm, cố định trong 24 tháng đầu tiên từ ngày giải ngân, hết thời hạn này lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/7 và 01/10 hàng năm). Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong thời hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong thời hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Kỳ trả nợ gốc: Bên vay được ân hạn nợ gốc trong 12 tháng đầu tiên, sau đó trả nợ gốc định kỳ 01 tháng/ 01 lần vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả nợ gốc đầu tiên là ngày 15/6/2022, số tiền nợ gốc trả mỗi kỳ là 19.334.000 đồng, riêng kỳ cuối cùng trả nợ gốc là 19.134.000 đồng. Kỳ trả nợ lãi: Bên vay phải trả nợ lãi cho ngân hàng 01 tháng 01 lần vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả nợ lãi đầu tiên là ngày 15/6/2022.
Ngoài ra, ông Nguyễn Mạnh N1 còn vay Ngân hàng V1 số tiền 300.000.000 đồng theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ LN2205135763597, số tiền trên giải ngân ngày 17/5/2022. Lãi suất cho vay theo quy định của ngân hàng V1.
Để đảm bảo cho khoản vay này, ông Nguyễn Mạnh N1 đã thế chấp tài sản là thửa đất số 326, tờ bản đồ số 28, diện tích 195m² và tài sản trên đất tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ ngày 23/3/2017 cho hộ bà Nguyễn Thị H (viết tắt là thửa đất số 326), ngày 19/4/2022 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh N1 theo hợp đồng thế chấp số 5049697/TC ngày 09/5/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Bắc Ninh.
Sau khi nhận tiền từ Ngân hàng V1, ông N1 đã trả được 868.027.209 đồng, trong đó 583.161.118 đồng tiền lãi, 284.866.091 đồng tiền gốc và không thực hiện trả tiền theo như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Ngày 15/8/2023 toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang nợ quá hạn và ông N1 phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn. Khi khoản vay của ông N1 phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng V1 đã gửi thông báo và đòi nhiều lần nhưng ông N1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết.
Ngày 27/4/2024, Ngân hàng V1 đã bán một phần khoản nợ của ông N1 cho Công ty Cổ phần M (Công ty M) theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2024/VPB-MARS và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng V1 với Công ty M. Theo đó, ngân hàng V1 đồng ý bán và Công ty M đồng ý mua 90% khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay mà ông N1 đã ký với ngân hàng V1. Ngân hàng V1 đã thông báo cho ông N1 về việc bán nợ.
Ngày 30/11/2024 ngân hàng V1 đã bán tiếp một phần khoản nợ của ông N1 cho Công ty Cổ phần M (Công ty M) theo Hợp đồng mua bán nợ số 14/2024/VPB-MARS và Phụ lục đính kèm giữa ngân hàng V1 với Công ty M. Theo đó, ngân hàng V1 đồng ý bán và Công ty M đồng ý mua 9% khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay mà ông N1 đã ký với ngân hàng V1. Ngân hàng V1 đã thông báo cho ông N1 về việc bán nợ.
Căn cứ vào hợp đồng mua bán nợ thì Công ty M đã mua khoản nợ của ngân hàng V1 tương ứng 99% tổng số khoản nợ của ông N1 tại ngân hàng V1.
Do nhiều lần làm việc với ông N1 để yêu cầu trả nợ nhưng ông N1 không trả nên Công ty M và ngân hàng V1 đã khởi kiện buộc ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho Công ty M tổng số tiền tính đến ngày 15/01/2025 là 7.489.988.068 đồng, trong đó nợ gốc là 5.756.982.570 đồng, nợ lãi là 1.596.229.095 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 136.776.403 đồng.
Ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 15/01/2025 là 75.656.445 đồng, trong đó nợ gốc là 58.151.339 đồng, nợ lãi là 16.123.526 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 1.381.580 đồng.
Ông N1 phải tiếp tục trả lãi cho Công ty M và ngân hàng V1 kể từ ngày 16/01/2025 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2201095049697 ngày 09/5/2022, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ LN2205135763597 giải ngân ngày 17/5/2022.
Nếu ông N1 không trả được nợ thì Công ty M và ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
Bị đơn là ông Nguyễn Mạnh N1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 23/8/2024: Ông N1 xác nhận có vay tiền của Ngân hàng V1, tuy nhiên đối với việc Công ty M và ngân hàng V1 mua bán khoản nợ của ông thì ông không được ngân hàng V1 thông báo nên không biết gì về việc mua bán nợ này. Khi vay tiền của ngân hàng V1 thì mẹ đẻ của ông N1 là bà Nguyễn Thị H bảo ông ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Ông N1 chỉ biết rằng ông ký hợp đồng tín dụng để vay tiền cho bà H sử dụng, ông không nắm được cụ thể số tiền vay trong hợp đồng đã ký là bao nhiêu. Toàn bộ số tiền ông vay của ngân hàng V1 đều do bà H sử dụng, ông không sử dụng số tiền đó. Ông N1 ủy quyền cho bà H tham gia tố tụng tại Tòa án để giải quyết toàn bộ vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H trình bày tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 07/11/2024, 19/11/2024 có sự chứng kiến của kiểm sát viên nhưng bà H không ký biên bản: Bà H xác nhận toàn bộ số nợ mà nguyên đơn trình bày là đúng. Đồng ý trả nợ nhưng đề nghị nguyên đơn gia hạn thời gian thanh toán nợ để bà giao bán tài sản, thu xếp trả nợ cho nguyên đơn. Khoản nợ ông Nguyễn Mạnh N1 vay ngân hàng V1 là khoản nợ của cá nhân ông N1, tài sản thế chấp là của riêng ông N1. Vợ chồng ông N1 đã ly hôn, vợ ông N1 không liên quan gì đến việc vay ngân hàng và thế chấp tài sản. Vì vậy đề nghị không đưa vợ của ông N1 vào tham gia tố tụng trong vụ án. Ông N1 là con trai của bà H, ủy quyền cho bà H tham gia tố tụng trong vụ án nhưng chưa làm thủ tục ủy quyền. Bà H có trách nhiệm thông báo về nội dung các buổi làm việc cho ông N1.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án theo đúng quy định của pháp luật nhưng không tiến hành hòa giải được nên Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản vay 300.000.000 đồng theo giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ, giải ngân ngày 17/5/2022.
Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho Công ty M tổng số tiền tính đến ngày 24/01/2025 là 7.159.353.774 đồng, trong đó nợ gốc là 5.531.452.728 đồng, nợ lãi là 1.497.406.686 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 130.494.360 đồng.
Ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 24/01/2025 là 72.316.705 đồng, trong đó nợ gốc là 55.873.260 đồng, nợ lãi là 15.125.320 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 1.318.125 đồng;
Ông N1 phải tiếp tục trả lãi cho Công ty M và ngân hàng V1 kể từ ngày 25/01/2025 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2201095049697 ngày 09/5/2022.
Ông N1 không trả được tiền thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 326, tờ bản đồ số 28, diện tích 195m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ ngày 23/3/2017 cho hộ bà Nguyễn Thị H đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh N1 ngày 19/4/2022. Diện tích thửa đất tăng lên nhưng đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo như diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên toà là đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 58; Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho Công ty M tổng số tiền tính đến ngày 24/01/2025 là 7.159.353.774 đồng, trong đó nợ gốc là 5.531.452.728 đồng, nợ lãi là 1.497.406.686 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 130.494.360 đồng.
Ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 24/01/2025 là 72.316.705 đồng, trong đó nợ gốc là 55.873.260 đồng, nợ lãi là 15.125.320 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 1.318.125 đồng;
Ông N1 phải tiếp tục trả lãi cho Công ty M và ngân hàng V1 kể từ ngày 25/01/2025 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2201095049697 ngày 09/5/2022.
Nếu ông N1 không trả được nợ thì Công ty M và ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản vay 300.000.000 đồng theo giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ, giải ngân ngày 17/5/2022.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về việc vắng mặt của các đương sự: Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ cho các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa ngày 19/12/2024, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 153 của Hội đồng xét xử, phiên tòa được mở lại vào hồi 08 giờ ngày 30/12/2024, căn cứ vào đơn xin hoãn phiên tòa của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 156 của Hội đồng xét xử, phiên tòa được mở lại vào hồi 08 giờ ngày 15/01/2025 và thông báo thay đổi thời gian xét xử vào hồi 08 giờ ngày 24/01/2025, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người này.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Công ty M và Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả số tiền gốc, lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật. Ông N1 không có đăng ký kinh doanh, mục đích vay tiền để mua bất động sản nên đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Bị đơn là ông Nguyễn Mạnh N1 trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1 Hợp đồng tín dụng:
Xét Hợp đồng cho vay số LN2201095049697 ngày 09/5/2022 giữa Ngân hàng V1 với ông Nguyễn Mạnh N1, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc ký hợp đồng tín dụng được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật về tín dụng ngân hàng nên hợp đồng này có hiệu lực pháp luật.
Ông N1 đã nhận đầy đủ tiền nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận. Ngân hàng V1 đã bán 99% khoản nợ trên cho Công ty M, vì vậy trong vụ án này có đồng thời hai nguyên đơn. Hợp đồng mua bán nợ đã tuân thủ các quy định của pháp luật nên ngân hàng V1 và Công ty M đều có quyền khởi kiện đến Tòa án buộc ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả tiền theo hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng V1.
Về số tiền nợ gốc: Ông N1 xác nhận có ký hợp đồng vay tại ngân hàng là đúng nhưng không nhớ số tiền cụ thể. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký giữa ngân hàng V1 với ông N1 thì ông N1 đã nhận từ Ngân hàng số tiền 5.800.000.000 đồng. Ông N1 đã trả được 212.674.012 đồng nợ gốc nên số nợ gốc còn là 5.587.325.988 đồng. Công ty M đã mua 99% khoản nợ tương ứng số tiền 5.531.452.728 đồng, ngân hàng V1 còn lại khoản nợ là 55.873.260 đồng. Vì vậy có đủ căn cứ xác định số nợ gốc như trên là đúng.
Về tiền lãi: Hợp đồng tín dụng giữa các đương sự được ký kết ngày 09/5/2022 nên mức lãi suất các đương sự thỏa thuận được tính căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 được xác định như sau: a) Lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn”.
Tại hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các đương sự đều thể hiện mức lãi suất cho vay 9,9%/năm, cố định trong 24 tháng đầu tiên từ ngày giải ngân, hết thời hạn này lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/ 01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/7 và 01/10 hàng năm).
Mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả lãi bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ướng với thời gian chậm trả.
Các nội dung thỏa thuận này phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên có hiệu lực pháp luật. Ông N1 xác nhận có vay tiền của ngân hàng V1, tuy nhiên số tiền ông vay ngân hàng V1 là để cho mẹ đẻ của ông là bà Nguyễn Thị H sử dụng, ông N1 không sử dụng số tiền đó. Bà H xác nhận số nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, nợ lãi chậm trả lãi theo như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng, đồng ý trả nợ nhưng đề nghị nguyên đơn gia hạn thời gian thanh toán nợ nhưng ngân hàng V1 và Công ty M không đồng ý. Vì vậy, có đủ căn cứ để xác định số nợ gốc, nợ lãi theo như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Buộc ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho Công ty M tổng số tiền tính đến ngày 24/01/2025 là 7.159.353.774 đồng, trong đó nợ gốc là 5.531.452.728 đồng, nợ lãi là 1.497.406.686 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 130.494.360 đồng.
Ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho ngân hàng V1 tổng số tiền tính đến ngày 24/01/2025 là 72.316.705 đồng, trong đó nợ gốc là 55.873.260 đồng, nợ lãi là 15.125.320 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 1.318.125 đồng;
Ông N1 phải tiếp tục trả lãi cho Công ty M và ngân hàng V1 kể từ ngày 25/01/2025 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2201095049697 ngày 09/5/2022.
2.2 Hợp đồng thế chấp tài sản:
Xét Hợp đồng thế chấp số 5049697/TC ngày 09/5/2022 giữa ông N1 với Ngân hàng V1 thì thấy: Thửa đất số 326 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/3/2017 cho hộ bà Nguyễn Thị H, đã làm thủ tục chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh N1 vào ngày 19/4/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Hợp đồng thế chấp được ký kết tại Văn phòng C, tỉnh Bắc Ninh, đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hoàn toàn tự nguyện và đúng quy định nên có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và xác minh tại UBND xã Y thì thửa đất này có sự thay đổi về ranh giới, mốc giới thửa đất. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thì thửa đất số 326 có diện tích là 195m², tuy nhiên diện tích sử dụng thực tế là 344,1m². Phần diện tích đất tăng lên so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phần đất lấn chiếm, chưa được đăng ký biến động, chưa được nhà nước công nhận. Vì vậy, diện tích thửa đất được xác định theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Ngân hàng V1 và Công ty M đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật nên ông N1 không trả được tiền thì ngân hàng V1 và Công ty M có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Có sơ đồ kèm theo.
[3] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản vay 300.000.000 đồng theo giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ, giải ngân ngày 17/5/2022. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Vì vậy, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản vay 300.000.000 đồng theo giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ, giải ngân ngày 17/5/2022. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại bằng vụ án khác khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 và Công ty M được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ngân hàng V1 và Công ty M tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn là ông Nguyễn Mạnh N1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về chi phí thẩm định: Ngân hàng V1 và Công ty M tự nguyện chịu và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 295, 298, 299, 318, 319, 320, 322, 323, 326, 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho Công ty cổ phần M tổng số tiền tính đến ngày 24/01/2025 là 7.159.353.774 đồng, trong đó nợ gốc là 5.531.452.728 đồng, nợ lãi là 1.497.406.686 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 130.494.360 đồng.
- Ông Nguyễn Mạnh N1 phải trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền tính đến ngày 24/01/2025 là 72.316.705 đồng, trong đó nợ gốc là 55.873.260 đồng, nợ lãi là 15.125.320 đồng, nợ lãi chậm thanh toán là 1.318.125 đồng;
- Ông N1 phải tiếp tục trả lãi cho Công ty cổ phần M và ngân hàng TMCP V kể từ ngày 25/01/2025 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2201095049697 ngày 09/5/2022.
- Ông N1 không trả được tiền thì Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 326, tờ bản đồ số 28, diện tích 195m² ở thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ ngày 23/3/2017 cho hộ bà Nguyễn Thị H, ngày 19/4/2022 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh N1. Diện tích thửa đất được xác định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Có sơ đồ kèm theo.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản vay 300.000.000 đồng theo giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ, giải ngân ngày 17/5/2022. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại bằng vụ án khác khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Án phí: Ông Nguyễn Mạnh N1 phải chịu 115.231.670 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP V 16.135.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002523 ngày 06/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Hoàn trả Công ty Cổ phần M 57.400.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002450 ngày 16/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hồng Thanh |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận thỏa thuận giữa Mars và Nguyễn Mạnh N
