Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 04 /2025 /HNGĐ-ST

Ngày: 24/01/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh

2. Ông Dương Đình Đức

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:

Ông Đàm Hoàng Sơn - Chức vụ Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 190/2024 /TLST-HNGĐ ngày 02/10/2024 về việc yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/ QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Triệu Thị K, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Xóm Đồng Bầu, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

2. Bị đơn: Anh Phan Văn C, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(chị K, anh C xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Triệu Thị K trình bày: Chị và anh Phan Văn C chung sống với nhau từ năm 1996, có được tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật do anh chị còn trẻ, hiểu biết còn hạn chế, sau đó thì do bận công việc gia đình, anh chị cũng lãng quên việc phải đi đăng ký kết hôn. Từ đó cho đến nay, anh chị chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn.

Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn sung đột, cuộc sống không phù hợp do bất đồng quan điểm về mọi vấn đề trong cuộc sống, anh C đối xử thô bạo với chị, mặc dù hai bên đã cố gắng hòa giải, hai gia đình cũng đã can

thiệp nhưng vẫn không thể kìm chế được bức xúc khi phải sống chung trong một mái nhà, từ năm 2018 đến nay chị và anh C sống ly thân nhau. Nay chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, không có khả năng đoàn tụ. Do anh chị không có đăng ký kết hôn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân, việc chung sống của anh chị theo pháp luật hôn nhân gia đình, không công nhận chị và anh C là vợ chồng.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là Phan Văn C1, sinh ngày 07/09/1996 và Phan Thị N, sinh ngày 20/01/2002 hiện nay các con đã thành niên, đã xây dựng gia đình nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai bị đơn anh Phan Văn C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Triệu Thị K chung sống với nhau từ năm 1996, có được tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật do anh chị còn trẻ, hiểu biết còn hạn chế. Từ đó cho đến nay, anh chị chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn.

Quá trình chung sống đến nay, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn mà bản thân anh chị không dàn xếp được, nay chị K có đơn yêu cầu Tòa án không công nhận anh và chị K là vợ chồng, anh nhất trí vì xác định vợ chồng không còn tình cảm.

- Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là Phan Văn C1, sinh ngày 07/09/1996 và Phan Thị N, sinh ngày 20/01/2002 hiện nay các con đã thành niên, đã xây dựng gia đình nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình với UBND xã T được cung cấp thông tin: UBND xã T không lưu giữ được sổ đăng ký kết hôn từ năm 1997 trở về trước. Hiện nay UBND xã T chỉ lưu giữ được sổ đăng ký kết hôn từ năm 1998. Qua rà soát tại sổ này thì không có trường hợp chị Triệu Thị K, sinh năm 1977 và anh Phan Văn C, sinh năm 1973 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T.

Tại biên bản xác minh ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình với UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nơi chị K cư trú trước khi kết hôn) được cung cấp thông tin: Qua tra cứu sổ sách và dữ liệu quản lý, lưu trữ tại UBND xã H không có trường hợp chị Triệu Thị K, sinh năm 1977 và anh Phan Văn C, sinh năm 1973 có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS; Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định của BLTTDS. VKS không có ý kiến kiến nghị gì.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa X về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000, Đề nghị HĐXX:

+ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Triệu Thị K và anh Phan Văn C.

+ Về con chung: Hiện nay các con chung đã thành niên nên không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung, các khoản nợ chung:: Các đương sự không có yêu cầu, không đặt ra việc giải quyết.

+ Án phí: Chị Khánh chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

+ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án hôn nhân gia đình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Hai bên đương sự chị K và anh C có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ vào điểm a khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Chị Triệu Thị K và anh Phan Văn C đã được tòa án triệu tập hợp lệ, có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung;

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị K, anh C đều thống nhất trình bày anh chị chung sống với nhau từ năm 1996, có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Tại biên bản xác minh của Tòa án với UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nơi chị K, anh C cư trú trước khi kết hôn đều được cung

cấp thông tin: Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn được lưu trữ tại UBND xã không có trường hợp chị Triệu Thị K và anh Phan Văn C có đăng ký kết hôn, phù hợp với lời trình bày của các bên đương sự tại Tòa án.

HĐXX thấy rằng: Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có điều kiện kết hôn theo quy định của luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003...từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”

Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này, chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng”. Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này. Nếu có yêu cầu về con thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật này”.

Việc chung sống giữa chị K, anh C từ năm 1996 không có đăng ký kết hôn, theo quy định tại các Điều luật viện dẫn trên, HĐXX có căn cứ tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Triệu Thị K và anh Phan Văn C.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung tên Phan Văn C1, sinh ngày 07/09/1996 và Phan Thị N1, sinh ngày 20/01/2002 hiện nay 02 con chung đều đã trưởng thành, có gia đình riêng nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị K, anh C xin tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4]. Về án phí: Chị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 146, 147, khoản 1 Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 53, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí; Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Triệu Thị K và anh Phan Văn C.
  2. Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung tên Phan Văn C1, sinh ngày 07/09/1996 và Phan Thị N1, sinh ngày 20/01/2002. Hiện nay 02 con chung đều đã thành niên, có gia đình riêng nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị K, anh C xin tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Triệu Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0003954 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho chị K, anh C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - Chi cục THA huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Tân Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN về không công nhận quan hệ vợ chồng (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger