Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CÁI RĂNG

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/01/2025

V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    • 1/ Ông Nguyễn Thanh Tùng.
    • 2/ Bà Lê Thị Tuyết Mai.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Hoài Hận – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 229/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/10/2024 về việc “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 408/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/12/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N, sinh năm 2001 (Có mặt).
  • Địa chỉ: Số A khóm A, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Trường S, sinh năm 2002 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số D khu vực K, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N trình bày và yêu cầu: Chị và anh Nguyễn Trường S tự nguyện tìm hiểu và quen nhau sau đó tiến đến hôn nhân, có làm lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận C, thành phố Cần Thơ vào ngày 14/6/2023. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, anh S không tôn trọng vợ và có nhiều lời lẽ xúc phạm. Sau nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, hiện tại vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trường S.
  • Về con chung: Trong thời gian chung sống có 01 (một) con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N1 (nữ), sinh ngày 09/9/2022. Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Trường S đã được Tòa án triệu tập 02 (hai) lần đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án trên theo quy định, cụ thể vào các ngày 20/11/2024 và ngày 11/12/2024, tuy nhiên anh S vắng mặt mà không có lý do. Cho nên, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Có mặt tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trường S, về con chung: Chị N có ý kiến để đảm bảo sự ổn định về cuộc sống của con chung nên thống nhất giao bé Nguyễn Ngọc Khánh N1 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, cũng như tại phiên tòa hôm nay: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục tố tụng. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý giải quyết đúng quy định; Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; không phát hiện vi phạm.
  • - Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Đối với bị đơn anh Nguyễn Trường S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Trường S, do trong thời gian chung sống thì hôn nhân của chị N và anh S phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng nhưng hai người không tự giải quyết mâu thuẫn đã tồn tại. Về con chung: Có 01 (một) con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N1 (nữ), sinh ngày 09/9/2022, hiện đang sống với anh S, cho nên để đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dạy con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu N1 cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng, tại phiên toà chị N cũng thống nhất giao con chung cho anh S nuôi dưỡng cho nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung do bị đơn anh S vắng mặt nên chưa được làm rõ, đề nghị tách ra xem xét giải quyết thành vụ án khác, nếu đương sự có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N và anh Nguyễn Trường S tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân phường P, quận C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 73, ngày 14/6/2023, nên hôn nhân của anh S và chị N là hợp pháp được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. C sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không đạt được hạnh phúc như mong muốn nên chị N có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh S, quan hệ tranh chấp được xác định là “Xin ly hôn”, vụ việc được Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Nguyễn Trường S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của các đương sự:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị N và anh S là hợp pháp trên cơ sở tự nguyện, trong thời gian chung sống thì tình cảm vợ chồng có sự rạn nứt, mâu thuẫn với nhau, giữa hai người không tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn, không hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân đã được xây dựng.
  • Xét thấy, để xây dựng hạnh phúc của gia đình, cũng như cuộc sống của vợ chồng phải được vun đắp từ tình cảm thật sự xuất phát từ bản thân của cả người vợ và người chồng, sự tự nguyện cả hai người đồng thời cùng duy trì, giữ gìn hạnh phúc đã xây dựng, cùng chăm lo cho nhau và nuôi dạy con chung, nhưng anh S và chị N không làm được điều này. Chị N cho rằng không còn tình cảm, không thể hàn gắn, kiên quyết ly hôn với anh S, nếu gán ép, duy trì sẽ không mang lại hạnh phúc. Riêng đối với bị đơn anh S đã được Tòa án thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng vắng mặt mà không có lý do, không đưa ra ý kiến hay giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau, chứng tỏ không còn tha thiết duy trì cuộc hôn nhân với chị N. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị N và anh S không đạt được, đời sống chung thực tế không tồn tại, nghĩ nên cho chị N được ly hôn với anh S là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
  • - Về con chung: Có 01 (một) con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N1 (nữ), sinh ngày 09/9/2022, theo kết quả xác minh ngày 20/01/2025 thể hiện cháu N1 hiện đang sống với anh S, có mặt tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn chị N có ý kiến thống nhất giao con chung cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, để đảm bảo ổn định về các điều kiện chăm sóc, giáo dục, cũng như nuôi dưỡng con chung, nghĩ nên giao cháu N1 cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp và có căn cứ. Trường hợp sau này có tranh chấp liên quan đến việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sẽ được tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
  • Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn chị N có ý kiến là không phải cấp dưỡng nuôi con, riêng đối với bị đơn anh S vắng mặt, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác.
  • Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, không có yêu cầu, riêng anh S vắng mặt nên chưa được làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 147, 235, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Trường S.
  2. Về con chung: Có 01 (một) con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N1 (nữ), sinh ngày 09/9/2022; giao cháu N1 cho anh Nguyễn Trường S tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Trường hợp sau này có tranh chấp liên quan đến việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sẽ được tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
  3. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn chị N có ý kiến là không phải cấp dưỡng nuôi con, riêng đối với bị đơn anh S vắng mặt, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác.
  4. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
  5. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, không có yêu cầu, riêng anh S vắng mặt nên chưa làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
  6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ Thanh N nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003813 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ; chị N đã nộp xong án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm theo quy định./.

* Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Cần Thơ;
  • - VKSND Q.Cái Răng;
  • - Chi cục THADS Q. Cái Răng;
  • - UBND P. Phú Thứ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Vũ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng về xin ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Cái Răng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger