|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/DS-ST Ngày: 23-01-2025 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Trí Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa và ông Phan Minh Quốc.
- Thư ký phiên toà: Ông Lâm Quang Trực - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 743/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXX-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang;
Bị đơn: Ông Ngô Văn A, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị M có mặt, ông Ngô Văn A vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà có mua bán vật tư xây dựng với vợ chồng ông Ngô Văn A nhiều lần với phương thức trả dần có tính lãi với lãi suất 1,5%/tháng. Tính đến ngày 11/9/2021 ông A còn nợ bà 44.033.000 (bốn mươi bốn triệu không trăm ba mươi ba nghìn) đồng. Do ông A vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà yêu cầu buộc ông Ngô Văn A phải trả cho bà số tiền mua bán vật liệu xây dựng là 44.033.000 (bốn mươi bốn triệu không trăm ba mươi ba nghìn) đồng. Bà Nguyễn Thị M yêu cầu tính lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị M tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông Ngô Văn A trả số tiền 5.033.000 đồng và tính lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ. Bà chỉ yêu cầu ông Ngô Văn A trả cho bà số tiền 39.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 08/5/2024.
Bị đơn ông Ngô Văn A vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị M có mặt, ông Ngô Văn A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 357, Điều 430, Điều 440, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tuyên:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, buộc ông ông Ngô Văn A trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 39.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định pháp luật từ ngày 08/5/2024.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với yêu cầu ông Ngô Văn A trả số tiền 5.033.000 đồng và tính lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và tư cách tham gia tố tụng: Đây là tranh chấp dân sự về Hợp đồng mua bán, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Ngô Văn A có địa chỉ tại ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định bà Nguyễn Thị M là nguyên đơn, ông Ngô Văn A là bị đơn.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị M có mặt, ông Ngô Văn A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu buộc ông Ngô Văn A phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền còn nợ là 44.033.000 (bốn mươi bốn triệu không trăm ba mươi ba nghìn) đồng và tiền lãi với lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bà Nguyễn Thị M tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông Ngô Văn A trả số tiền 5.033.000 đồng và tính lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ. Bà chỉ yêu cầu ông Ngô Văn A trả cho bà số tiền 39.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 08/5/2024.
[3.1] Về đánh giá chứng cứ:
Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị M trình bày bà có mua bán vật tư xây dựng với ông Ngô Văn A nhiều lần. Đến ngày 08/5/2024 ông Ngô Văn A còn nợ bà 39.000.000 đồng và có viết Tờ cam kết cùng ngày. Bị đơn ông Ngô Văn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ thể hiện phản bác hay chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án.
[3.2] Xét, giao dịch mua bán giữa bà Nguyễn Thị M với ông Ngô Văn A được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ của các bên. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 44.033.000 (bốn mươi bốn triệu không trăm ba mươi ba nghìn) đồng và tiền lãi với lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ nhưng tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện rút lại một phần yêu cầu đối với yêu cầu bị đơn trả cho bà số tiền 5.033.000 đồng và tính lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ. Bà chỉ yêu cầu ông Ngô Văn A trả cho bà số tiền 39.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 08/5/2024, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là do sự tự nguyện của nguyên đơn và có lợi cho bị đơn nên có cơ sở chấp nhận. Tại Tờ cam kết ngày 08/5/2024 có chữ ký, chữ viết của ông Ngô Văn A ghi nhận ông Ngô Văn A còn nợ bà Nguyễn Thị M tiền mua vật liệu xây dựng là 39.000.000 đồng và cam kết mỗi tháng trả cho bà Nguyễn Thị M 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Thời gian trả bắt đầu tính từ ngày 25/6/2024. Do ông Ngô Văn A vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Nguyễn Thị M yêu cầu ông Ngô Văn A trả nợ gốc là 39.000.000 đồng có căn cứ, phù hợp với quy định tại quy định tại Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 39.000.000 đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu bị đơn trả cho bà số tiền 5.033.000 đồng và tính lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ
[3.3] Về lãi suất, theo quy định tại khoản 3 Điều 440, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự thì:
“...Điều 440. Nghĩa vụ trả tiền
...3. Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này...
...Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này...
...Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác ...
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ....”
Tại Tờ cam kết ngày 08/5/2024 các bên không thỏa thuận lãi suất nhưng bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền, nguyên đơn có yêu cầu tính lãi từ ngày 08/5/2024 đến ngày 23/01/2024 (lãi suất tính theo tháng, trường hợp kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm số ngày dư ra không đủ một tháng phía nguyên đơn không yêu cầu tính lãi đối với số ngày dư) theo quy định pháp luật phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 440, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
Tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là tiền lãi đối với nợ gốc 39.000.000 đồng từ ngày 08/5/2024 đến ngày xét xử (23/01/2024):
39.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 08 tháng = 2.589.600 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 430, Điều 440, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
- Buộc ông Ngô Văn A trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/01/2025 là 2.589.600 (hai triệu năm trăm tám mươi chín ngàn sáu trăm) đồng.
- Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị M đối với yêu cầu ông Ngô Văn A trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 5.033.000 (năm triệu không trăm ba mươi ba ngàn) đồng và tính lãi suất 1.5% tháng kể từ ngày 11/9/2021 cho đến khi trả dứt nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Ngô Văn A phải chịu 2.079.480 (hai triệu không trăm bảy mươi chín ngàn bốn trăm tám mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- H lại cho bà Nguyễn Thị M số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 1.100.000 (một triệu một trăm ngàn) đồng theo B lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011518 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Trí Nguyên |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai.
