Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày 23-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sửu

Ông Đào Xuân Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan Phương, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Mạnh H; tên gọi khác: không; sinh ngày 23 tháng 6 năm 1990 tại huyện T; nơi thường trú: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị N; có vợ (Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1989 (đã ly hôn); con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2011/HSST ngày 23/02/2011 của Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/7/2011, chấp hành xong án phí ngày 06/6/2011; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 27/9/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã N, huyện T làm nhiệm vụ tại khu vực nhà nghỉ L3 thì thấy Nguyễn Mạnh H - sinh năm 1990 nơi đăng ký thường trú thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô kiểu dáng Honda Winner X màu đen đi vào trong khu vực sảnh nhà nghỉ có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với H. Quá trình kiểm tra phát hiện H đang cầm 01 ví da, trong khe giữa phần nắp và mặt trước của ví da có 01 miếng băng dính màu xanh, trên một mặt có dính 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu, trong đó: 03 (ba) đoạn bên trong mỗi đoạn đều đựng 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 03 (ba) đoạn bên trong mỗi đoạn đều đựng chất tinh thể màu trắng. Hưởng khai nhận các viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng là ma túy của H cất giấu với mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng rồi đưa Nguyễn Mạnh H về trụ sở Ủy ban nhân dân xã N để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng gồm: Thu giữ trên tay trái Nguyễn Mạnh H cầm khi bị bắt 01 (một) ví da màu nâu, bên ngoài có họa tiết kẻ ca rô, trong khe giữa phần nắp và mặt trước của ví da có:

  • + 01 (một) miếng băng dính màu xanh, trên một mặt có dính 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu, trong đó: 03 (ba) đoạn bên trong mỗi đoạn đều đựng 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 03 (ba) đoạn bên trong mỗi đoạn đều đựng chất tinh thể màu trắng, tất cả nghi ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT Hưởng”.
  • + 01 (một) mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc.

Nguyễn Mạnh H tự nguyện giao nộp:

  • + 01 (một) chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Winner X màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36B6-248.25, số khung: RLHKC2600GY307697, số máy: KC26E-1154383 (xe đã kiểm tra, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì có liên quan).
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 862244060214872, lắp sim số 0388.118.650. (Bút lục: 40-41)

Sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra tiến hành test nhanh chất ma tuý trong cơ thể của Nguyễn Mạnh H. Kết quả Hưởng dương tính với ma tuý Methamphetamine. (Bút lục: 96).

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Mạnh H tại thôn N, xã C, huyện T. Kết quả khám xét đã thu giữ:

  • + T dưới gối trên thảm nhựa kê tại chân cầu thang tầng một: 01 hộp nhựa màu trắng, bên ngoài có vỏ dán băng dính màu đen và xanh, bên trong có 05 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đựng 01 viên nén màu hồng đỏ hình tròn, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX1”.
  • + T tại túi nhựa màu hồng treo trên móc quần áo gắn tại bờ tường phòng ngủ tầng 1: 02 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong mỗi ống đều chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX2”. (Bút lục: 52).

Ngày 27/9/2024, Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B để giám định đối với các viên nén hình tròn và chất tinh thể màu trắng đã thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét nơi ở của Nguyễn Mạnh H để xác định có phải là chất ma túy hay không, loại ma túy gì, có tổng khối lượng là bao nhiêu.

Tại Kết luận giám định số 2124/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

5.1. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT Hưởng” đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0,220 gam, loại Methamphetamine; 03 (ba) viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0,306 gam, loại Methamphetamine. (06 (sáu) đoạn ống nhựa trên được dính trên một mặt 01 (một) mảnh băng dính màu xanh).

5.2. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX1” đã được niêm phong gửi giám định: 05 (năm) viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 05 (năm) đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 (một) hộp nhựa màu trắng, bên ngoài dán băng dính màu xanh và màu đen là ma túy, có tổng khối lượng 0,497 gam, loại Methamphetamine.

5.3. Trong 01 (một) phong bì kí hiệu “KX2” đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0,041 gam, loại Methamphetamine. (Bút lục: 37)

Quá trình điều tra Nguyễn Mạnh H khai nhận về nguồn gốc số ma túy cụ thể như sau:

Hưởng nghe mọi người nói (nhưng không nhớ là ai) ở khu vực bãi rác của khu đô thị A thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang có người tên L – sinh năm 1992 ở thị trấn C, huyện T có bán ma tuý nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/9/2024, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B6-248.25 đến khu vực bãi rác của khu đô thị A để mua ma túy về sử dụng (Hưởng không quen biết L). Khi đến khu vực bãi rác, H thấy có một nam thanh niên đeo khẩu trang đi xe mô tô kiểu dáng Wave không có biển kiểm soát đi qua đi lại nhiều lần nên H hỏi có phải L không bán cho 500.000 đồng tiền ma tuý “đá, ngựa” (ý H bảo người đàn ông đó bán cho H ma tuý tổng hợp dạng đá và hồng phiến), người thanh niên nói “Tiền đâu”, H đưa cho người này 500.000 đồng, người đoàn ông đó cầm tiền của H và đi đâu đó. Khoảng 10 phút sau thì người đàn ông này quay lại đưa cho H 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng ma tuý đá và ma tuý hồng phiến, H cầm túi ma tuý rồi điều khiển xe mô tô về nhà trọ tại thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang mà Hưởng thuê của chị Hoàng Thị Thu S, sinh năm 1971 trú tại số A, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi về đến nhà trọ Hưởng kiểm tra túi nilon ma tuý vừa mua thì thấy có 08 viên ma tuý tổng hợp dạng hồng phiến và chất tinh thể màu trắng là ma tuý tổng hợp dạng đá. Hưởng lấy ống hút chia ra được 8 đoạn ống nhựa mỗi đoạn đựng 01 viên ma tuý hồng phiến và 03 đoạn ống nhựa đựng ma tuý dạng đá, còn lại một ít ma tuý đá H sử dụng hết. Sau khi chia xong, H cất 05 đoạn ống nhựa đựng ma tuý hồng phiến để dưới gối trên thảm nhựa kê tại chân cầu thang tầng một, để 02 ống nhựa vừa sử dụng để chia ma tuý dạng đá vào túi nhựa màu hồng treo trên móc quần áo trong phòng ngủ, còn lại 03 (ba) đoạn ống nhựa đựng ma túy hồng phiến, 03 (ba) đoạn ống nhựa đựng ma túy đá Hưởng quấn băng dính màu xanh kẹp giữa ví để cầm đi chơi sử dụng. Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 27/9/2024, H cầm chiếc ví kẹp 06 đoạn ống nhựa đựng ma tuý rồi điều khiển xe mô tô đi chơi đến Nhà nghỉ L3 ở thôn T, xã N, huyện T thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng như đã nêu trên (Bút lục: 111-121, 124-131).

Đối với chị Hoàng Thị Thu S là người đã cho H thuê nhà để ở, chị S không biết việc H cất giấu ma tuý tại nhà nên chị S không vi phạm pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho H, H không biết là ai, ở đâu, H chỉ nghe nói khu vực bãi rác khu đô thị A có người tên L, sinh năm 1992 ở thị trấn C, huyện T bán ma tuý nhưng H không biết người bán ma tuý cho H có phải là L không. Do khi bán ma túy cho H người đàn ông đó đeo khẩu trang nên H không nhận dạng được người này. Cơ quan điều tra, Công an huyện T đã triệu tập Nguyễn Thành L – sinh năm 1992 trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang đến làm việc. Quá trình đấu tranh L không thừa nhận bán ma túy cho H, L khai khoảng thời gian ngày 27/9/2024, L đang ở Hà Nội, L không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra đã làm việc với bà Giáp Thị N1 – sinh năm 1972 là mẹ của L, bà N1 xác định L đã bỏ nhà đi làm ăn từ tháng 5/2024 không có mặt ở nhà. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera ở khu vực bãi rác khu đô thị A nhưng khu vực này không có thiết bị camera. Do đó, Cơ quan điều tra không xác định được người bán ma tuý cho H là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Mạnh H vào ngày 27/9/2024, ngày 18/12/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 1.250.000 đồng đối với Nguyễn Mạnh H.

Vật chứng chưa xử lý gồm:

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B6-248.25 bị thu giữ, quá trình điều tra Hưởng khai nhận chiếc xe này là tài sản của H do H mua lại của chủ xe có giấy tờ mua bán nhưng do thời gian lâu H không nhớ cụ thể mua bao nhiêu tiền, giấy tờ mua bán và giấy chứng nhận đăng ký xe Hưởng đã đánh rơi mất. Cơ quan điều tra đã tra cứu xác định chiếc xe này đăng ký chủ xe là anh Thao Văn L1 – sinh năm 1996 trú tại bản Ché Lầu, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan điều tra đã làm việc với anh Thao Văn L1, anh L1 khai đầu năm năm 2024, anh L1 đi làm công nhân ở Bắc Giang đã anh L1 đã bán cho người không quen biết. Cơ quan điều tra đã tra cứu xác định chiếc xe này không có trong dữ liệu xe vật chứng nên xác định chiếc xe mô tô này là tài sản của Nguyễn Mạnh H ngày 27/9/2024, H đã sử dụng chiếc xe này để đi mua ma tuý.

Đối với 01 chiếc ví có hoạ tiết kẻ ca rô là ví của H dùng để cất giấu ma tuý.

Đối với 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 862244060214872, lắp sim số 0388.118.650 là tài sản của H không liên quan đến việc phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 08/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Sau khi kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 01 (một) năm 10 (mười) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/9/2024.

Ngoài ra, còn đề cập đường lối xử lý về vật chứng và tiền án phí.

Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội, bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; L2 khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 27/9/2024, tại khu vực nhà nghỉ L3 thuộc thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Mạnh H có hành vi tàng trữ trái phép 0,526 gam ma túy Methamphetamine. Ngoài ra, H còn tàng trữ trái phép 0,538 gam ma túy Methamphetamine tại nơi ở thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tổng số ma tuý H tàng trữ trái phép là 1,064 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; đã xâm phạm đến khách thể là sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hìnhsự bảo vệ.

Do vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Mạnh H là nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện của cá nhân, bị cáo H vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma tuý. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác vì vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương chiến công nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo được tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Hình phạt và mức hình phạt như vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp so với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy có thể áp dụng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát vẫn bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời thể hiện sự khoan hồng đối với người phạm tội.

Bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

[6] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho H do cơ quan điều tra không xác định được là ai nên không có căn cứ xử lý. Đối với chị Hoàng Thị Thu S là người đã cho H thuê nhà để ở, chị S không biết việc H cất giấu ma tuý tại nhà nên chị S không vi phạm pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, 01 chiếc ví da màu nâu bên ngoài có hoạ tiết kẻ ca rô là ví của H dùng để cất giấu ma tuý, 01 mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là vật chứng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 862244060214872, lắp sim số 0388.118.650 là tài sản của H không liên quan đến việc phạm tội cần tra lại cho bị cáo H nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Winner màu đen, đã qua sử dụng biển kiểm soát 36B6-248.25, số khung RLHKC2600GY 307697, số máy KC26E-1154383 đăng ký chủ xe là anh Thao Văn L1, sinh năm 1996 trú tại bản Ché Lầu, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình điều tra anh L1 khai đã bán cho người không quen biết, bị cáo khai chiếc xe này là tài sản của bị cáo mua lại của chủ xe có giấy tờ mua bán nhưng do thời gian lâu bị cáo không nhớ cụ thể mua bao nhiêu tiền, giấy tờ mua bán và giấy chứng nhận đăng ký xe đã đánh rơi mất, cơ quan điều tra đã tra cứu xác định chiếc xe này không có trong dữ liệu xe vật chứng nên xác định đây là phương tiện của bị cáo sử dụng đi mua ma túy, do đó cần tịch thu dung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các điều136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điềuđiểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2024.

2. Về việc xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 (một) phong bì ký hiệu "QT Hưởng" có: mẫu tinh thể màu trắng đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,182 gam. Mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,277gam. (06 đoạn ống nhựa trên được dính trên một mặt 01 (một) mảnh băng dính màu xanh).
  • + 01 (một) phong bì ký hiệu "KX1" có: mẫu viên nén màu hồng đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,465 gam. Vỏ bao gói mẫu sau giám định.
  • + 01 (một) phong bì ký hiệu "KX2" có: mẫu tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,027 gam.
  • + 01 chiếc ví da màu nâu, bên ngoài có hoạ tiết kẻ ca rô đã qua sử dụng.
  • + 01 mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Mạnh H 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 862244060214872, lắp sim số 0388.118.650 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng HONDA WINNER màu đen, đã qua sử dụng biển kiểm soát 36B6-248.25, số khung RLHKC2600GY307697, số máy KC26E-1154383.

(Vật chứng của vụ án như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnhđiều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.)

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Công an huyện Tân Yên;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Mai Hương

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh H - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger