Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày 23-01-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU – TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Văn Đê;

Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thọ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Nhà văn hóa huyện H, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Đặng Văn Q, sinh năm 1994; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị M, sinh năm 1970; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là thứ hai; vợ là Phạm Thị N, sinh năm 1995 và 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31-12-2024 cho đến nay.

2. Vương Văn D, sinh năm 1999; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn T, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1975; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là thứ hai; vợ là chị Vũ Thị Hồng D1, sinh năm 2003; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-12-2024 cho đến nay.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vũ Thành C1, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
  2. Anh Trần Văn D2, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
  3. Anh Vũ Văn L, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

  1. Anh Đặng Văn K, sinh năm 1989.
  2. Ông Vương Văn T, sinh năm 1974.

(Có mặt các bị cáo, anh K, ông T; vắng mặt anh D2, anh C1, anh L)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 8/2024, Vương Văn D sử dụng điện thoại đi động nhãn hiệu Samsung A33 màu đen gắn sim số 0971392330 đăng nhập mạng xã hội đặt mua 02 giàn pháo hoa nổ loại 49 quả với giá 1.400.000đ/1 giàn để bán kiếm lời. Khoảng hai ngày sau, một người đàn ông 30 tuổi không biết tên, địa chỉ đến phòng trọ Vương Văn D ở phố Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội giao 02 giàn pháo, D thanh toán hết 2.800.000đ, đem về nhà ở xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cất giấu. Cuối tháng 11/2024, D nhắn tin cho Vũ Thành C1 chào bán pháo hoa nổ với giá 1.400.000đ/1 giàn (C1 là anh rể nên D không lấy tiền lời). D mang 02 giàn pháo đến khu vực cầu X, xã H, huyện H bán cho C1 lấy 2.800.000đ. C1 mang 02 giàn pháo về nhà ở xóm F, xã H, huyện H cất giấu mục đích để đốt trong dịp Tết Nguyên đán.

Đầu tháng 12/2024, Vương Văn D nhắn tin zalo cho Đặng Văn Q đặt mua 05 giàn pháo với giá 1.300.000đ/1 giàn pháo hoa nổ loại 36 quả hết tổng số tiền 6.500.000đ. Ngày 8/12/2024, D chuyển khoản cho Q số tiền 4.500.000đ và đưa cho anh Đặng Văn K (anh trai Q) số tiền 2.000.000đ nhờ trả tiền cho Q. Sau khi nhận đủ số tiền 6.500.000đ, Q hẹn D đến cầu C, thuộc xóm A, xã H, huyện H nhận pháo. Khoảng 16 giờ cùng ngày, D nhận được 01 túi ni lông màu đen dán kín từ xe ô tô 4 chỗ tại khu vực cầu C, xã H nhưng không nhớ biển số xe cũng như người giao hàng. D mang túi ni lông trên về nhà kiểm tra thì thấy bên trong có 05 giàn pháo hoa nổ loại 36 quả. D nhắn tin Facebook cho Trần Văn D2 chào bán pháo hoa nổ, D2 đồng ý mua 02 giàn với giá 1.500.000đ/1 giàn. Khoảng 18 giờ ngày 08/12/2024, D mang 02 giàn pháo đến khu vực gần nhà D2 bán lấy 3.000.000đ, D2 mang 02 giàn pháo về nhà cất giấu mục đích để đốt vào dịp Tết Nguyên đán. Sau khi bán pháo cho D2, D tiếp tục nhắn tin cho Vũ Văn L chào bán pháo, L đồng ý mua 01 giàn với giá 1.500.000đ rồi chuyển khoản tiền cho D và hẹn lấy pháo sau. Khoảng hai ngày sau, L gọi điện hỏi mua thêm 01 giàn pháo, D báo giá 1.650.000đ/giàn. Khoảng 16 giờ ngày 14/12/2024, D mang 02 giàn pháo ra đầu ngõ nhà D bán cho L lấy 1.650.000đ; Lưỡng mang 02 giàn pháo về nhà ở xóm E, xã H, huyện H cất giấu mục đích để đốt vào dịp Tết Nguyên đán. Còn lại 01 giàn pháo D cất giấu tại nhà mục đích để bán kiếm lời.

Ngày 17/12/2024, Công an huyện H ra quân mở đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, tuyên truyền vận động giao nộp, đấu tranh, xử lý tội phạm về vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo trong dịp Tết nguyên đán 2025, Vương Văn D đã đến Công an tự giác giao nộp 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (16x14x13)cm, bọc giấy nhiều màu, có chữ nước ngoài, D khai nhận là pháo hoa nổ cất giấu để bán kiếm lời (niêm phong ký hiệu M1). Trần Văn D2 tự nguyện đến Cơ quan điều tra giao nộp 02 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (16x14x13)cm, bọc giấy nhiều màu, có chữ nước ngoài (niêm phong ký hiệu M2); Vũ Văn L tự nguyện giao nộp 02 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (16x14x13)cm, bọc giấy nhiều màu, có chữ nước ngoài (niêm phong ký hiệu M3). Cơ quan điều tra thu giữ tại nhà ở của Vũ Thành C1 02 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17x17x10)cm, bọc giấy nhiều màu, có chữ nước ngoài (niêm phong ký hiệu K). Trần Văn D2, Vũ Văn L, Vũ Thành C1 đều khai nhận là pháo hoa nổ mua của D để sử dụng đốt trong dịp Tết Nguyên đán 2025. Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vương Văn D.

Ngày 31/12/2024, Đặng Văn Q đến Công an huyện H đầu thú, khai nhận: Khoảng tháng 8/2024, Q nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán kiếm lời nên sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi truy cập vào trang mạng xã hội đặt mua 05 giàn pháo hoa nổ, loại giàn 36 quả với giá 4.500.000đ, bán lại cho Vương Văn D với giá 6.500.000đ, thu lời 2.000.000đ. Quá trình điều tra, Vương Văn D, Đặng Văn Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định số 87/KTHS ngày 24/12/2024, Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật gửi giám định đều là pháo hoa nổ, khối lượng lần lượt như sau: Mẫu M1 khối lượng 1,484kg; mẫu M2 khối lượng 3,057kg; mẫu M3 khối lượng 3,123 kg; mẫu K khối lượng 3,452kg.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33 màu đen gắn sim số 0971392330 và số tiền 8.950.000₫ của Vương Văn D; thu giữ số tiền 6.500.000đ của Đặng Văn Q cùng toàn bộ số pháo hoa nổ hoàn trả mẫu vật sau giám định ký hiệu M1, M2, M3, K. Đối với các điện thoại di động Vivo i10; Oppo A38; Iphone 13; điện thoại Xiaomi Vũ Thành C1, Trần Văn D2, Vũ Văn L và Đặng Văn Q đã sử dụng liên hệ mua bán pháo nhưng quá trình sử dụng Công, D2, L, Q đã bị rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Cáo trạng số 05/CT-VKSHH ngày 10 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố các bị cáo Vương Văn D, Đặng Văn Q về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vương Văn D, Đặng Văn Q. Đề nghị xử phạt các bị cáo Vương Văn D, Đặng Văn Q mỗi bị cáo 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù đối với bị cáo D tính từ ngày 17-12-2024; bị cáo Q tính từ ngày 31-12-2024. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo và xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.

Tranh luận tại phiên tòa: Các bị cáo không tranh luận.

Nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 08/12/2024, Đặng Văn Q bán cho Vương Văn D 05 giàn pháo hoa nổ khối lượng 7,664 kg lấy 6.500.000đ. D mang pháo nổ về nhà ở xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cất giấu để bán kiếm lời. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Vương Văn D bán cho Trần Văn D2 02 giàn pháo nổ có khối lượng 3,057 kg lấy 3.000.000đ; khoảng 16 giờ ngày 14/12/2024, Vương Văn D bán cho Vũ Văn L 02 giàn pháo nổ khối lượng 3,123 kg lấy 3.150.000đ. Còn lại 01 giàn pháo nổ khối lượng 1,484 kg D cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Như vậy, tổng khối lượng pháo nổ Đặng Văn Q bán cho Vương Văn D là 7,664 kg; Vương Văn D bán cho Trần Văn D2, Vũ Văn L và cất giấu tại nhà để bán kiếm lời là 7,664 kg. Hành vi của các bị cáo Vương Văn D, Đặng Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với các bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu để xét xử với tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về vị trí, vai trò: Đặng Văn Q mua 05 giàn pháo hoa nổ khối lượng 7,664kg sau đó bán lại toàn bộ cho Vương Văn D. Vương Văn D bán cho Trần Văn D2 02 giàn, bán cho Vũ Văn L 02 giàn còn 01 giàn tiếp tục rao bán kiếm lời. Như vậy, mặc dù cùng hành vi mua pháo để bán lại mục đích kiếm lời với khối lượng bằng nhau, trong cùng vụ án nhưng hành vi của các bị cáo là độc lập, cùng tính chất mức độ nhưng không đồng phạm.Vì vậy, Hội đồng xét xử không xếp vụ trí, vai trò của từng bị cáo.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Trong những năm gần đây, các hành vi vi phạm về sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng pháo, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái phép vào các dịp trước, trong và sau tết Nguyên đán gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã tăng cường các biện pháp bảo đảm, vận động người dân bằng nhiều biện pháp nhưng tình hình tội phạm liên quan đến pháo và vật liệu nổ vẫn chiều hướng gia tăng. Trên thực tế đã có nhiều vụ tai nạn thương tâm do sản xuất, đốt pháo trái phép; mỗi vụ tai nạn xảy ra là nỗi đau về thể xác, tinh thần cho bản thân người vi phạm và cả gia đình, người thân. Các bị cáo D và Q đều đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của pháo nổ nhưng vẫn buôn bán để kiếm lời. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Trong vụ án này, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thật thà ăn năn hối lỗi; bị cáo Đặng Văn Q sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú; các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình có đơn đề nghị được chính quyền địa phương xác nhận nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Bị cáo Vương Văn D mua lại toàn bộ khối lượng pháo của Đặng Văn Q sau đó rao bán nhiều lần cho nhiều người. Ngoài ra, vào tháng 8/2024, D đã mua 02 giàn pháo khối lượng 3,452kg sau đó bán lại nguyên giá đã mua cho anh rể là Vũ Thành C1. Vì vậy, cũng cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo Vương Văn D ở mức nghiêm khắc hơn so với bị cáo Đặng Văn Q.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

  • - Số tiền 15.450.000đ thu giữ của Đặng Văn Q và Vương Văn D là tiền do mua bán pháo nổ nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33 màu đen, số Imei 1: 351494693521015, số Imei 2: 353439743521018 thu giữ của Vương Văn D, bị cáo đã sử dụng làm công cụ phương tiện để liên lạc mua bán pháo nổ nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Toàn bộ số pháo nổ hoàn trả mẫu vật sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 sim số thuê bao 0971392330 của bị cáo Vương Văn D không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về vấn đề khác:

Vương Văn D bán 02 giàn pháo hoa nổ có tổng khối lượng 3,452 kg cho Vũ Thành C1 vào tháng 11/2024 nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”. Vũ Thành C1 mua 3,452 kg pháo nổ; Trần Văn D2 mua 3,057 kg pháo nổ và Vũ Văn L mua 3,123 kg pháo nổ của Vương Văn D mục đích đốt trong dịp Tết Nguyên đán, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”. Công an huyện H đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H ra quyết định xử phạt hành chính đối với Vương Văn D, Vũ Thành C1, Trần Văn D2, Vũ Văn L là phù hợp.

Anh Đặng Văn K nhận tiền D trả cho Q nhưng không biết đó là tiền Q bán pháo cho D mà có nên không xử lý anh K bằng pháp luật là phù hợp.

Người bán và người giao pháo nổ cho Vương Văn D và Đặng Văn Q vào khoảng tháng 8/2024, do D và Q không biết rõ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vương Văn Q1, Đặng Văn Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vương Văn D, Đặng Văn Q.

    Tuyên bố các bị cáo Vương Văn D, Đặng Văn Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

    Xử phạt bị cáo Vương Văn D 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17-12-2024.

    Xử phạt bị cáo Đặng Văn Q 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31-12-2024.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: Số tiền 15.450.000đ (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó: 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Đặng Văn Q và 8.950.000đ (tám triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Vương Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33, vỏ màu đen của Vương Văn D.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 04 thùng cát tông bên trong chứa đựng toàn bộ số pháo nổ hoàn trả mẫu vật sau giám định số 87/KL-KTHS ngày 24-12-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N; 01 sim số thuê bao 097.139.2xxx của bị cáo Vương Văn D.

    Các vật chứng gồm: Số tiền 15.450.000đ (mười lăm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33, vỏ màu đen của Vương Văn D; 01 sim số thuê bao 097.139.2xxx của bị cáo Vương Văn D được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu và Biên lai thu tiền số 0000308 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

    Vật chứng gồm: 04 thùng cát tông bên trong chứa đựng toàn bộ số pháo nổ hoàn trả mẫu vật sau giám định số 87/KL-KTHS ngày 24-12-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an huyện H.

  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Vương Văn Q1, Đặng Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Vương Văn Q1, Đặng Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Thành C1, anh Trần Văn D2, anh Vũ Văn L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND + VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - Chi cục THADS huyện Hải Hậu;
  • - UBND xã Hải Đường;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Hòe

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về buôn bán hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Vương Văn D, Đặng Văn Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger