|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN ------------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------------- |
Bản án số 04/2025/HS-ST
Ngày 23 tháng 01 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI
-------------
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử và ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Minh Khôi - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở TAND huyện Ân Thi mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 10/01/2025 đối với:
- Bị cáo: Mai Tiến T, sinh năm 2005 Giới tính: Nam
Nơi sinh, nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 9/12
Họ tên bố: Mai Văn S, sinh năm 1982 Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ tên mẹ: Mai Thị C, sinh năm 1985 Nghề nghiệp: Lao động tự do
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 25/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản (Đã được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách ngày 25/3/2024).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2024, đến ngày 19/9/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên (có mặt)
- Bị hại: Anh Đinh Thành L, sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: Phố P, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Đinh Văn T1, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: Số 133 Hoàng Lộc, P. Lê Thanh Nghị, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương - Anh Hoàng Việt A, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: 28C/75 Lê Thanh Nghị, P. Phạm Ngũ Lão, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương - Anh Lê Văn D, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Đội 6, thôn Dị Chế, xã Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên - Anh Trần Đình N, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương. - Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện H, tỉnh Thái Bình - Anh Hoàng Đình T3, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: khu dân cư T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Tiến T và anh Đinh Thành L quen biết nhau từ trước nên khoảng 09 giờ ngày 22/02/2024, T đến quán Internet “Liêm Zâu” của anh L tại phố P, thị trấn  chơi điện tử. Sau đó, T hỏi và được anh L cho mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, màu đen, biển số 89C1-153.16, số khung: RLHKF1417DY071929, số máy: KF14E0062043 của anh L để đi ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh L để bán lấy tiền ăn tiêu nên T không mang chiếc xe trả lại anh L. T mở kiểm tra trong cốp của xe thấy có 01 giấy đăng ký của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển số 89C1-153.16 và 01 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Đinh Thành L. Khoảng 07 giờ ngày 23/02/2024, T điều khiển chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16 đi đến khu vực khu dân cư T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương thấy có quán sửa xe máy mang tên Quang H1 đang mở cửa, T vào quán gặp anh Nguyễn Văn H, là chủ quán. T hỏi anh H có mua xe không. Anh H không mua xe mà gọi điện thoại cho anh Đinh Văn T1 đến để mua xe. T nói là xe của mình nên anh T1 thống nhất với T mua bán chiếc xe mô tô trên với giá 23.000.000 đồng, hai bên viết giấy bán xe, T giao xe cho anh T1 và để giấy đăng ký xe cùng giấy chứng minh nhân dân mang tên Đinh Thành L ở trong cốp của xe. Về phần anh L không thấy T quay lại trả xe nên đã nhiều lần gọi điện thoại cho T để đòi lại xe nhưng không liên lạc được với T. Đến ngày 09/9/2024, anh L làm đơn trình báo đến Công an huyện Ân Thi. Đến ngày 10/9/2024, T đã đến Công an huyện Ân Thi đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Sau khi mua chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16, anh T1 bán lại chiếc xe cho anh Hoàng Việt A với giá 32.500.000 đồng. Sau đó, anh Việt A bán lại chiếc xe cho anh Lê Văn D với giá 35.800.000 đồng. Anh Dũng bán lại chiếc xe cho anh Trần Đình N với giá 36.000.000 đồng. Ngày 29/02/2024, anh N bán lại chiếc xe cho anh Nguyễn Ngọc T2 với giá 36.500.000 đồng. Đến ngày 25/3/2024, anh T2 bán lại chiếc xe cho anh Hoàng Đình T3 với giá 46.000.000 đồng, bao gồm cả tiền làm thủ tục đăng ký sang tên cho anh T3.
Quá trình mua bán chiếc xe mô tô trên, các bên mua bán khi giao xe đều giao cả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và ảnh giấy chứng minh nhân dân của anh Đinh Thành L. Anh T2 đã đưa giấy đăng ký xe, biển số xe và ảnh chứng minh nhân dân của anh L cho anh D và nhờ anh D làm thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và biển số xe để làm thủ tục đăng ký sang tên. Anh Dũng nhờ anh Vũ Văn C1 rút hồ sơ đăng kí của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, biển số 89C1-153.16. Anh C1 tự làm hợp đồng mua bán xe giữa anh L với anh T2, tự ký tên anh L (là bên bán), anh T2 (là bên mua) trong hợp đồng mua bán xe và đã được ông Vương Thế T4 là Phó Chủ tịch UBND xã Đ, huyện P chứng thực hợp đồng mua bán. Anh C1 đến Công an huyện Ân Thi làm xong thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, biển số của chiếc xe 89C1-153.16 và rút được hồ sơ đăng kí ban đầu của xe rồi chuyển hồ sơ cho anh T2. Lúc này, tính từ ngày kí hợp đồng mua bán xe do anh C1 làm đã quá hạn để làm thủ tục đăng ký sang tên nên anh T2 đã tự làm một hợp đồng mua bán xe nhãn hiệu Honda SH150i, biển số 89C1-153.16 khác giữa anh L với anh T2 và anh Tứ T5 ký tên anh L (là bên bán) vào hợp đồng và đã được ông Lưu Văn H2 là Phó Chủ tịch UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình chứng thực hợp đồng mua bán. Anh T2 đến Công an xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình làm thủ tục đăng ký sang tên chiếc xe cho anh T4 và được cấp giấy chứng nhận xe mô tô mang tên Hoàng Đình T3 và biển số 17B2-710.16 đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, số khung: RLHKF1417DY071929, số máy: KF14E0062043.
Ngày 18/9/2024, anh T3 tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô biển số 17B2-710.16 và giấy chứng nhận đăng ký xe số 17000230 tên chủ xe Hoàng Đình T3 cho Cơ quan điều tra. Ngày 17/10/2024, Cơ quan điều tra đã quản lý của ông Vũ Xuân C2 là cán bộ công chức tư pháp xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình 01 bản Hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16, bên bán là Đinh Thành L, bên mua là Nguyễn Ngọc T2, có chứng thực (hình dấu đỏ) số 232 ngày 14/3/2024 của UBND xã Đ, huyện P.
Ngày 22/11/2024, Cơ quan điều tra đã quản lý của Công an xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình 01 bản sao hồ sơ đăng ký của chiếc xe mô tô biển số 17B2-710.16, tên chủ xe: Hoàng Đình T3, địa chỉ: thôn P, xã H, huyện V, trong đó có bản Hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16, bên bán là Đinh Thành L, bên mua là Nguyễn Ngọc T2, có chứng thực số 206 ngày 18/5/2024 của UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Ngày 27/11/2024, Cơ quan điều tra đã quản lý của Đội cảnh sát giao thông trật tự- Công an huyện  01 chiếc biển số 89C1-153.16, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 015878 tên chủ xe Đinh Thành L, 01 bản photocopy hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16, bên bán là Đinh Thành L, bên mua là Nguyễn Ngọc T2.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG ngày 16/9/2024 của Hội đồng định giá huyện  kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, màu đen, biển số 89C1-153.16, số khung RLHK1417DY071929, số máy KF14E0062043 đăng ký sử dụng từ tháng 11/2014 đến nay có giá là 35.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết và hình dấu đối với bản Hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16, bên bán là Đinh Thành L, bên mua là Nguyễn Ngọc T2, có chứng thực (hình dấu đỏ) số 232 ngày 14/3/2024 của UBND xã Đ, huyện P. Tại kết luận giám định số 400/KL-KTHS ngày 28/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
- Chữ ký, chữ viết mang tên Đinh Thành L dưới mục “BÊN BÁN (Bên A)” trên tài liệu cần giám định A với chữ ký, chữ viết của Đinh Thành L trên mẫu so sánh M1 không phải do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Ngọc T2 dưới mục “BÊN MUA (Bên B)” trên tài liệu cần giám định A với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Ngọc T2 trên mẫu so sánh M2 không phải do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký mang tên Lê Ngọc G dưới mục “Người tiếp nhận hồ sơ” trên tài liệu cần giám định A với chữ ký của Lê Ngọc G trên mẫu so sánh M3 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Vương Thế T4 dưới mục “T/M UBND XÃ ĐOÀN ĐÀO” trên tài liệu cần giám định A với chữ ký của Vương Thế T4 trên mẫu so sánh M4 do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D XÃ ĐOÀN ĐÀO H. PHÙ CỪ T.HƯNG YÊN” trên tài liệu cần giám định A với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh M5 do cùng một con dấu đóng ra.
H3 lại các tài liệu cần giám định và mẫu so sánh.
Quá trình điều tra, bị cáo Mai Tiến T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, bị cáo đã ăn tiêu hết số tiền bán xe có được.
Vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô biển số 17B2-710.16 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 17000230 tên chủ xe Hoàng Đình T3; 01 chiếc biển số 89C1-153.16 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 015878 tên chủ xe Đinh Thành L hiện đang được quản lý tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Â.
Đối với 01 bản hợp đồng mua bán xe có chứng thực (hình dấu đỏ) số 232 ngày 14/3/2024 của UBND xã Đ, huyện P; 01 bản sao hồ sơ đăng ký chiếc xe mô tô biển số 17B2-710.16 và 01 bản photocopy hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16, hiện đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Đối với chứng minh dân dân mang tên Đinh Thành L khi anh T5 bán xe cho anh Việt A thì giao xe cùng giấy đăng ký xe cho anh Việt A và ảnh chứng minh nhân dân mang tên Đinh Thành L, còn chứng minh nhân dân mang tên Đinh Thành L do anh T5 không nhớ đã để ở đâu nên không quản lý được.
Về trách nhiệm dân sự: Anh L đề nghị được nhận lại chiếc xe của mình đã bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì về việc bồi thường. Anh T2 đã trả lại cho anh T3 nhận đủ số tiền 46.000.000 đồng, anh T3 và anh T2 không có yêu cầu gì về số tiền mua, bán chiếc xe trên.
Đối với Đinh Văn T1, Hoàng Việt A, Lê Văn D, Trần Đình N, Nguyễn Ngọc T2 và Hoàng Đình T3 đã mua, bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16 nhưng không biết chiếc xe do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với việc Vũ Văn C1 soạn thảo, giả mạo chữ ký của anh T2, anh L trong hợp đồng mua bán xe và việc UBND xã Đ, huyện P chứng thực bản hợp đồng này, việc Nguyễn Ngọc T2 soạn thảo, giả mạo chữ ký của anh L trong hợp đồng mua bán xe và việc UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình nay là UBND xã Q, huyện H chứng thực bản hợp đồng này; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi đã ra Quyết định số 875 ngày 05/12/2024 tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSAT ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố bị cáo Mai Tiến T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Mai Tiến T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Anh L và anh T1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh T1 khai đã được bố bị cáo là ông S đã thay mặt bị cáo trả cho anh T1 số tiền 23.000.000 đồng; ông S và bị cáo đều khai do bị cáo nhờ ông S trả hộ số tiền trên, anh T1 và ông S không yêu cầu đề nghị gì về số tiền 23.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng số 01/CT-VKSAT ngày 03/01/2025. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Tiến T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Mai Tiến T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Tổng hợp 13 tháng tù của bản án số 04 ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt Mai Tiến T 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 26 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 04 tháng đến 02 năm 10 tháng tù, thời gian tính từ ngày 10/9/2024.
- Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do không có nguồn thu nhập ổn định, bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho anh L chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, màu đen 01 chiếc biển số 89C1-153.16 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 015878 tên chủ xe Đinh Thành L. Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 17000230 tên chủ xe Hoàng Đình T3 và 01 chiếc biển số 17B2-710.16 giao cho Công an xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình để làm thu tục thu hồi theo quy định.
Đối với 01 bản hợp đồng mua bán xe có chứng thực (hình dấu đỏ) số 232 ngày 14/3/2024 của UBND xã Đ, huyện P; 01 bản sao hồ sơ đăng ký chiếc xe mô tô biển số 17B2-710.16 và 01 bản photocopy hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16 là các tài liệu chứng cứ của vụ án nên được lưu trữ tại hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh L không có yêu cầu gì về việc bồi thường. Anh T2 đã trả lại cho anh T3 nhận đủ số tiền 46.000.000 đồng, anh T3 và anh T2 không có yêu cầu gì về số tiền mua, bán chiếc xe trên nên không xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 23.000.000 đồng mà bị cáo T đã bán chiếc xe mô tô chiếm đoạt của anh L cho anh T1 là tiền do bị cáo phạm tội có nhưng đã ăn tiêu hết. Tại phiên tòa anh T1 khai đã được bố bị cáo là ông S đã thay mặt bị cáo trả cho anh T1 số tiền 23.000.000 đồng; ông S và bị cáo đều khai do bị cáo nhờ ông S trả hộ số tiền trên. Cả anh T1 và ông S không có yêu cầu đề nghị gì về số tiền 23.000.000 đồng nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Ân Thi; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp khách quan với biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 22/02/2024, tại quán Internet “Liêm Zâu” của anh Đinh Thành L tại phố P, thị trấn Â, huyện Â, do quen biết nhau từ trước, Mai Tiến T đã được anh L cho mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, màu đen, biển số 89C1-153.16 của anh L trị giá 35.000.000 đồng để đi ăn cơm. Sau đó, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô này của anh L, đã mang chiếc xe bán cho anh Đinh Văn T1 ở số A H, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương được số tiền 23.000.000 đồng rồi ăn tiêu hết và không liên lạc gì với anh L.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên có đủ nhận thức để biết rằng tài sản đó thuộc sở hữu của người khác nhưng do lười lao động, muốn kiếm tiền một cách dễ dàng nên bị cáo đã lợi dụng sự quen biết tin tưởng của người khác giao tài sản cho mình, nhưng sau đó bị cáo đã không trả lại tài sản cho chủ sở hữu mà cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Điều đó chứng tỏ bị cáo rất xem nhẹ các quy tắc xử sự trong cuộc sống cũng như rất coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo còn gây lên sự bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Mai Tiến T đã cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường cho anh T1 số tiền 23.000.000đ khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án kết án về tội Trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không tự rèn luyện tu dưỡng bản thân, nay lại có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác với giá trị lớn nên xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Do bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên sẽ chuyển hình hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 04/2022/HS-ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương về tội Trộm cắp tài sản thành hình phạt tù, bị cáo phải chịu hình phạt chung của cả hai bản án.
Về hình phạt bổ sung: Xét về hoàn cảnh kinh tế cũng như việc bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản chung, riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, màu đen, biển số 89C1-153.16, thuộc sở hữu của anh L do vậy sẽ trả lại cho anh L cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 015878 mang tên Đinh Thành L.
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 17000230 tên Hoàng Đình T3 và biển số xe 17B2-710.16 Công an xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình cấp không đúng đối tượng nên sẽ giao lại cho Công an xã H theo quy định.
- Bản hợp đồng mua bán xe có chứng thực (hình dấu đỏ) số 232 ngày 14/3/2024 của UBND xã Đ, huyện P; 01 bản sao hồ sơ đăng ký chiếc xe mô tô biển số 17B2-710.16 và 01 bản photocopy hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16, hiện đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án. Đây là chứng cứ chứng minh tình tiết của vụ án nên sẽ được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
- Giấy chứng minh dân dân mang tên Đinh Thành L khi anh T1 bán xe cho anh Việt A thì giao xe cùng giấy đăng ký xe cho anh Việt A và ảnh giấy chứng minh nhân dân mang tên Đinh Thành L, còn giấy chứng minh nhân dân mang tên Đinh Thành L, anh T1 làm thất lạc ở đâu không nhớ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự theo quy định .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 47, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Mai Tiến T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Mai Tiến T 01 năm 04 tháng tù. Chuyển hình phạt 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án số 04/2022/HS-ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương về tội Trộm cắp tài sản thành hình phạt tù. Tổng hợp hình phạt của hai bản án bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 05 tháng tù, thời gian tính từ ngày 10/9/2024.
Về trách nhiệm dân sự:
Không xem xét, giải quyết
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Trả lại cho anh Đinh Thành L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150i, màu đen cùng 01 biển số xe 89C1-153.16 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 015878 mang tên Đinh Thành L.
- Đối với 01 chiếc biển số 17B2-710.16 và 01 giấy đăng ký chiếc xe mô tô số 17000230 tên Hoàng Đình T3 giao cho Công an xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình xem xét, giải quyết theo quy định.
- Lưu tại hồ sơ vụ án Bản hợp đồng mua bán xe có chứng thực (hình dấu đỏ) số 232 ngày 14/3/2024 của UBND xã Đ, huyện P; 01 bản sao hồ sơ và 01 bản photocopy hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô biển số 89C1-153.16
(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKSAT ngày 03/01/2025 của VKSND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên và được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 06/01/2025).
Về án phí:
Bị cáo Mai Tiến T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Thủy |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Tiến T - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
