TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 22/01/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lục Thị Lan
- Bà: Nông Thị Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Trọng T; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có;
Bố đẻ: Đoàn Mạnh C, sinh năm 1967; Mẹ đẻ: Tạ Thị M, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Bản án số 558/2014/HSPT ngày 27/11/2014 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Giết người” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2017; chấp hành xong án phí ngày 12/01/2015).
- Ngày 23/6/2018, bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau, vi phạm trật tự công cộng”.
- Ngày 22/01/2019, bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Nhận cầm cố tài sản mà theo quy định tài sản đó phải có giấy tờ sở hữu nhưng không có các loại giấy tờ đó”.
Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang; (có mặt tại phiên tòa);
+ Người bị hại: Anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Nơi thường trú: thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Đoàn Trọng Q, sinh năm 1991 (có mặt)
- - Ông Đoàn Mạnh C, sinh năm 1967 (có mặt)
- - Bà Tạ Thị M, sinh năm 1969 (vắng mặt)
- Nơi thường trú: tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
+ Người làm chứng:
- - Chị Đỗ Thị B1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953 (vắng mặt)
- - Anh Trịnh Đắc N, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- Nơi thường trú: TDP H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/8/2024, tại quán ăn sáng của gia đình bà Nguyễn Thị L, ở tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, anh Nguyễn Quang B, đi ra trước khu vực cửa quán để lấy xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 054.13 đi về chỗ làm. Khi đang ngồi lên xe và nói chuyện điện thoại thì Đoàn Trọng T, cầm trên tay phải 01 con dao (dạng dao gọt hoa quả), tổng chiều dài là 22,4cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,8cm, loại dao một lưỡi, đầu mũi dao nhọn, trên mặt lưỡi dao có dập chữ “KIWI BRAND”, bản lưỡi dao chỗ rộng nhất là 1,85cm; phần chuôi dao bằng gỗ đi từ quầy bán hàng của gia đình T (nhà T ở cạnh nhà bà L), tiến đến đứng ở phía trước bên phải anh B, rồi bất ngờ dùng tay phải cầm dao đâm 01 phát trúng vào vùng hạ sườn phải của anh B. Anh B bỏ chạy thì T tiếp tục cầm dao đuổi theo sau. Khi bỏ chạy đến cửa nhà chị Nguyễn Thị T1, ở tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang cách vị trí anh Binh bị đâm ban đầu khoảng 06 mét thì anh Binh B2 ngã. Thấy vậy, T lao đến, dùng tay phải cầm dao đâm về phía anh B nhưng không trúng. Lúc này, bà M, mẹ đẻ của T chạy đến can ngăn, ôm và lôi T về nhà, còn anh B được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 09/8/2024 đến ngày 15/8/2024 thì ra viện.
Cùng ngày, Đoàn Trọng T đến Công an thị trấn B, huyện Y để đầu thú và tự nguyện giao nộp: 01 (một) con dao (loại dao gọt hoa quả), tổng chiều dài là 22,4cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,8cm, loại dao một lưỡi, đầu mũi dao nhọn, trên mặt lưỡi dao có dập chữ “KIWI BRAND”, bản lưỡi dao chỗ rộng nhất là 1,85cm; phần chuôi dao bằng gỗ và trình bày là con dao T dùng để gây thương tích cho anh B.
Ngày 10/8/2024, anh Nguyễn Quang B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 (một) áo phông cộc tay, màu xanh đỏ, loại có cổ bẻ, trên mặt ống tay có thêu chữ “ARISTINO”, mặt áo phía trước có vết rách dài 1,5cm.
Ngày 11/8/2024, anh Nguyễn Quang B có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, bị can đối với Đoàn Trọng T.
Ngày 09/8/2024 và ngày 13/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành rà soát camera an ninh tại khu vực xảy ra vụ việc và đã thu giữ 01 file video camera an ninh tại gia đình bà Ngô Thị T2, sinh năm 1953 ở tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; 01 file video camera an ninh tại gia đình bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1975 ở tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có ghi lại nội dung liên quan, đã tiến hành sao lưu sang 02 đĩa DVD để phục vụ công tác giám định;
Ngày 12/8/2024 bà Tạ Thị M tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 (một) chiếc kéo có tổng chiều dài là 20,5cm, phần lưỡi kéo được làm bằng kim loại màu trắng trên phần lưỡi kéo có chữ “FLOWER ROSE BRAND”, phần tay cầm được làm bằng nhựa màu xanh nước biển.
Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 12/8/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định: Bệnh nhân Nguyễn Quang B vào viện ngày 09/8/2024. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Tỉnh, đau bụng hạ sườn phải. Vết thương vùng hạ sườn phải kích thước khoảng (01x01)cm, không rõ đáy, sưng nề xung quanh, bụng chướng nhẹ, phản ứng thành bụng thượng vị.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 2538/24/KLTTCT-TTPY ngày 12/8/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B, kết luận: Thương tích vết thương đã khâu hạ sườn phải kích thước nhỏ: 1%; Thương tích vết mổ đã khâu vùng bụng kích thước nhỏ (1,8x0,1)cm: 1%; Thương tích vết mổ đã khâu vùng bụng kích thước nhỏ (0,8x0,1)cm: 1%; Thương tích vết mổ đã khô vùng bụng kích thước nhỏ: 1%. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Quang B tại thời điểm giám định là 4% (Bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế, chiều hướng, lực tác động gây thương tích: Thương tích do vật sắc nhọn gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích, lực tác động mạnh.Việc xác định vị trí trọng yếu trên cơ thể không thuộc lĩnh vực của giám định Pháp y. Không xác định được nếu không được cấp cứu kịp thời có dẫn đến tử vong hay không.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 2575/24/KLTTCT-TTPYngày 29/8/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B, kết luận: Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo vùng hạ sườn phải kích thước nhỏ: 1%; Thương tích vết mổ đóng vẩy khô đang liền sẹo dưới rốn kích thước nhỏ: 1%; Thương tích vết mổ đóng vẩy khô đang liền sẹo vùng bụng phải kích thước trung bình (2 x 1)cm: 2%; Thương tích vết mổ đóng vẩy khô đang liền sẹo vùng bụng phải kích thước nhỏ (0,7 x 0,1)cm: 1%; Thương tích rách mạch mạc nối lớn + Cầm máu vị trí mạch máu tổn thương của mạc nối lớn: 21%. Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Quang B tại thời điểm giám định là: 25% (Hai lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế chiều hướng, lực tác động gây thương tích: Thương tích do vật sắc nhọn gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích, lực tác động mạnh. Không xác định được thương tích trên cơ thể Nguyễn Quang B nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong hay không.
Tại Bản kết luận giám định ADN số HT442.24/PY -XNSH ngày 20/8/2024 của V kết luận: Dấu vết trên con dao (dạng gọt hoa quả), trên chiếc áo phông cộc tay gửi giám định là máu người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Nguyễn Quang B. Dấu vết trên chiếc kéo gửi giám định có sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường của 01 nam giới, không trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Nguyễn Quang B.
Tại Bản kết luận giám định số 1929/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) file video lưu trữ trong 02 (hai) đĩa DVD-R gửi giám định (File video có tên “JLDD8315.MP4", dung lượng 21,1MB, thời lượng 05 phút 03 giây; File video có tên “hình ảnh thu tại nhà dân.dav”, dung lượng 564MB, thời lượng 50 phút).
Quá trình điều tra xác định T đã từng điều trị bệnh “Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng Methamphetamine với triệu chứng hỗn hợp” tại V1 - Bệnh viện B3 từ ngày 21/7/2022 đến ngày 29/11/2023, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của Đoàn Trọng T. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 134/KLGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi Phía B – Bộ Y kết luận: Đoàn Trọng T, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang bị bệnh các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác, giai đoạn khỏi bệnh. Tại thời điểm thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” ngày 09/8/2024, Đoàn Trọng T không bị bệnh Tâm T4. Đoàn Trọng T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại (thời điểm giám định) Đoàn Trọng T không bị bệnh Tâm thần. Đoàn Trọng T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Ngày 23/8/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đoàn Trọng T thực nghiệm lại hành vi gây thương tích đối với anh Nguyễn Quang B. Kết quả, T thực hiện thuần thục động tác dùng tay phải cầm dao đâm 01 (một) phát trúng vào vùng hạ sườn phải của anh B.
Về trách nhiệm dân sự: Đoàn Trọng T đã tác động anh Đoàn Trọng Q (anh trai T); ông Đoàn Mạnh C và bà Tạ Thị M bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Quang B tổng số tiền là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng). Anh B không yêu cầu bồi thường gì thêm,
Tại cơ quan điều tra bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 20/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đã truy tố bị cáo Đoàn Trọng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đoàn Trọng T phạm tội “Cố ý gây thương tích” .
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Xử phạt: Đoàn Trọng T từ 03 năm đến 03 (ba) năm 4 (bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/8/2024
Về trách nhiệm dân sự. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng.
Căn cứ điểm a, điểm c, khoản 2, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao (dạng dao gọt hoa quả) tổng chiều dài 22,4cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,8cm, loại dao một đầu lưỡi, đầu mũi dao nhọn, trên mặt lười dao có dập chữ “KIWI BRAND” bản lưỡi dao chỗ rộng nhất là 1,85cm, phần chuôi dao (tay cầm bằng gỗ) được đựng trong 01 túi niêm phong mã số “PS1 201945”; được dán kín niêm phong và có chữ ký của các thành phần tham gia, dấu của Công an thị trấn B, dấu của V, ghi ký hiệu “HT442.24.1”; 01 áo phông cộc tay, màu xanh đỏ, loại có cổ bẻ, trên mặt ống tay có thêu chữ “ARISTINO”, mặt áo phía trước có vết rách dài 1,5cm vết rách này cách gấu áo là 27cm. được đựng trong một túi niêm phong mã số M3630119 và được dán giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia, dấu của V, ghi ký hiệu “áo” và HT442.24.3; 01 cây kéo có tổng chiều dài 20,5cm, phần lưỡi kéo được làm bằng kim loại mầu trắng trên phần lưỡi kéo có chữ “FLOWER ROSE BRAND” phần tay cầm được làm bằng nhựa màu xanh nước biển. được đựng trong một phong bì của Công an huyện Y được dán kín niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia, dấu của V, ghi ký hiệu “kéo” và HT442.24.2
Về tiền án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo: bị cáo không có ý kiến, đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1.[Về Tố tụng]: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người bị hại, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Họ đã có lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử; Căn cứ khoản 1, Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự: HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
2.[Về tội danh]: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay Đoàn Trọng T thừa nhận; Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/8/2024, tại tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Đoàn Trọng T, đã có hành vi dùng tay phải cầm 01(một) con dao (loại dao gọt hoa quả), tổng chiều dài là 22,4cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,8cm, loại dao một lưỡi, đầu mũi dao nhọn, trên mặt lưỡi dao có dập chữ “KIWI BRAND”, bản lưỡi dao chỗ rộng nhất là 1,85cm; phần chuôi dao bằng gỗ đâm 01 phát trúng vào vùng hạ sườn phải của anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1982 ở thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, sau đó tiếp tục đuổi theo định đâm anh B nhưng được bà M là mẹ bị cáo can ngăn, ôm bị cáo về, thương tích của anh B được Hội đồng giám định y khoa tỉnh Bắc Giang kết luận, tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ tổn thương là 25% (hai lăm phần trăm).
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thương tích trên người bị hại, phù hợp với thời gian, không gian, địa điểm xảy ra vụ án. Hành vi của bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng cạnh sườn gây thương tích 25% sức khỏe cho anh B, giữa bị cáo và anh B không có mâu thuẫn, thù oán gì, bị cáo dùng dao là vật sắc nhọn, đâm anh B.Như vậy Cáo trạng số 01/CTVKS-YT, ngày 20/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Đoàn Trọng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất ổn định trật tự trị an tại địa phương, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người hoàn toàn bình thường có đủ năng lực do vậy buộc phải biết sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đều bị pháp luật nghiêm trị. Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn bị cáo dùng dao nhọn đâm vào sườn bị hại gây tỷ lệ tổn thương 25% sức khỏe. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo với tính chất côn đồ, dùng hung khí nguy hiểm là có căn cứ. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hai, nay bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét. Anh Q, ông C, bà M là người bỏ tiền ra bồi thường cho anh B cũng không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho anh B nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải; khi phạm tội ra đầu thú, đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ chi phí điều trị thương tích cho bị cáo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân xấu năm 2014 Bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao xử 05 (năm) năm tù về tội “Giết người”; ngày 23/6/2018 bị Công an huyện Y xử phạt hành chính về hành vi “đánh nhau”, “vi phạm trật tự công cộng”; Ngày 22/01/2019 Công an huyện Y xử phạt hành chính về hành vi “Nhận cầm cố tài sản mà theo quy định tài sản đó phải có giấy tờ sở hữu nhưng không có các loại giấy tờ đó”; Lần phạm tội này của bị cáo với lỗi cố ý vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về xử lý vật chứng. Con dao là vật chứng bị cáo dùng gây thương tích cho anh B cần tịch thu tiêu huỷ; Căn cứ điểm a, điểm c, khoản 2, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:;
Đối với chiếc áo phông là vật không có giá trị sử dụng: cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với chiếc kéo là tài sản của gia đình bà M, ông C không liên quan đến hành vi phạm tội. Tại phiên Tòa ông C1 không yêu cầu lấy lại, X thấy chiếc kéo giá trị tài sản nhỏ, ông C không yêu cầu lấy lại. Cần tịch thu tiêu hủy.
Về tiền án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của UBTVQH
Về quyền kháng cáo: bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm đ khoản 2, Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 331. Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
2. Xử phạt: Đoàn Trọng T 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/8/2024.
3. Trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c, khoản 2, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 con dao (dạng dao gọt hoa quả) tổng chiều dài 22,4cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10,8cm, loại dao một đầu lưỡi, đầu mũi dao nhọn, trên mặt lười dao có dập chữ “KIWI BRAND” bản lưỡi dao chỗ rộng nhất là 1,85cm, phần chuôi dao (tay cầm bằng gỗ) được đựng trong 01 túi niêm phong mã số “PS1 201945”; được dán kín niêm phong và có chữ ký của các thành phần tham gia, dấu của Công an thị trấn B, dấu của V, ghi ký hiệu “HT442.24.1";
- - 01 áo phông cộc tay, màu xanh đỏ, loại có cổ bẻ, trên mặt ống tay có thêu chữ “ARISTINO”, mặt áo phía trước có vết rách dài 1,5cm vết rách này cách gấu áo là 27cm. được đựng trong một túi niêm phong mã số M3630119 và được dán giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia, dấu của V, ghi ký hiệu “áo” và HT442.24.3;
- - 01 cây kéo có tổng chiều dài 20,5cm, phần lưỡi kéo được làm bằng kim loại mầu trắng trên phần lưỡi kéo có chữ “FLOWER ROSE BRAND” phần tay cầm được làm bằng nhựa màu xanh nước biển. được đựng trong một phong bì của Công an huyện Y được dán kín niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia, dấu của V, ghi ký hiệu “kéo” và HT442.24.2
5. Về tiền án phí: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Đoàn Trọng T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt hoặc kể từ ngày niêm yết bán án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Vân Anh |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Trọng Tùng cố ý gây thương thương tích
