|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 22 - 01 - 2025 V/v ly hôn |
---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chi;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bình;
Ông Vũ Đức Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2024 (Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 14 tháng 01 năm 2025), giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; đăng ký thường trú và chỗ ở: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Văn L, sinh năm 1976; đăng ký thường trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hoà giải, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Vũ Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T ngày 10/12/2019. Trong quá trình chung sống, ông bà hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp; mặt khác do ông Lưu ham C cờ bạc, không chịu lao động, kinh tế gia đình hoàn toàn do bà T lo toan; ông L còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Bà T đã nhiều lần khuyên bảo, động viên ông L thay đổi nhưng ông Lưu K thay đổi. Bên cạnh đó, ông bà kết hôn đã lâu mà không có con chung nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, thường xuyên đánh, chửi nhau. Từ tháng 3 năm 2024 đến nay, bà T bỏ nhà đi nơi khác sinh sống, ông bà ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, bà T yêu cầu được ly hôn ông L. Bà T và ông Lưu K có con chung. Bà T tự thoả thuận về tài sản chung với ông L, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong Biên bản lấy lời khai và biên bản hoà giải, bị đơn là ông Vũ Văn L trình bày:
Bà T trình bày về thời gian, địa điểm kết hôn giữa ông và bà T là đúng thực tế. Trong quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận đến tháng 7 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp; mặt khác do vợ chồng chung sống với nhau đã lâu mà không có con chung. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, vợ chồng thường xuyên bất hoà, hôn nhân không hạnh phúc. Từ tháng 8 năm 2024, bà T bỏ nhà đi, ông L đã nhiều lần tìm gặp, động viên nhưng bà T không chịu về, ông bà sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay, bà T yêu cầu ly hôn, ông Lưu K đồng ý ly hôn, ông vẫn còn tình cảm với bà T; ông mong muốn vợ chồng đoàn tụ và đề nghị bà T cho ông thời gian một năm để ông tu chí làm ăn, thay đổi lại rồi hãy quyết định ly hôn. Ông L và bà T không có con chung. Ông Lưu T1 thoả thuận về tài sản chung với bà T, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Ông L và bà T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K theo quy định pháp luật. Ông bà sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng chung sống đã lâu mà không có con chung; mặt khác do ông Lưu ham C, không quan tâm đến gia đình. Từ khoảng giữa năm 2024, bà T bỏ đi làm ăn xa, ông bà sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Ông bà không có con chung.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, xét xử vắng mặt các đương sự và các hoạt động tố tụng khác. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không tham gia phiên toà là chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T: Xử cho bà T được ly hôn ông Vũ Văn L. Về con chung: Ông bà không có con chung. Về tài sản chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Đây là vụ án ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Vũ Văn L đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại huyện T, thành phố Hải Phòng. Do đó, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.
[2] Ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Vũ Văn L được xác lập từ ngày ngày 10/12/2019 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng chung sống với nhau đã lâu mà không có con chung; mặt khác do ông Lưu ham C, không quan tâm đến gia đình, vợ chồng thường xảy ra căng thẳng, bất hoà. Từ khoảng giữa năm 2024 đến nay, ông bà sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau. Do đó, có đủ cơ sở xác định, tình trạng hôn nhân giữa ông L và bà T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, xử cho bà T được ly hôn ông L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Ông bà không có con chung.
[5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án, bà T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án,
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Vũ Văn L.
- Về con chung: Không có.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, án phí ly hôn sơ thẩm. Bà T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, tạm ứng án phí, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009155, ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Bà T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, thông báo.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Chi |
4
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
