Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HSST

Ngày 17/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Anh Xuân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Quang Hoà.

Ông Phan Sỹ Hùng.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Minh H - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 28/01/1985. Nơi cư trú: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Quốc H1 (Đã chết), con bà: Đặng Thị Đ - Sinh năm 1956. Vợ: Lê Thị T, sinh năm 1996 (Đã ly hôn). Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Anh Trương Văn H2 – sinh năm 1974. Có mặt.

Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Trương Văn H3 – sinh năm 2006. Vắng mặt.

Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Bà Đặng Thị Đ – sinh năm 1958. Có mặt.

Địa chỉ: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Người làm chứng:

  1. Anh Vi Tiến H4 – sinh năm 1987. Vắng mặt.
  2. Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

  3. Chị Lương Thị L – sinh năm 1968. Vắng mặt.
  4. Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

  5. Chị Trương Thị H5 – sinh năm 1990. Có mặt.
  6. Địa chỉ: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 13/8/2024, Trần Minh H cùng với bà Đặng Thị Đ (mẹ của H) và chị Trương Thị H5 (em dâu của H) đều trú tại xóm B, xã N, huyện N kéo đường dây điện từ xóm T, xã N về nhà H. Khi kéo qua trước nhà anh Trương Văn H2 thì H tự ý đào hố chôn cột điện ở phía ngoài bờ rào nhà anh H2. Thấy vậy, Trương Văn H2 cùng con trai là Trương Quang H6 đi ra ngăn cản. Hai bên xảy ra cãi cọ qua lại, thách thức nhau. Trương Văn H2 nói “Không được đào ở đây” thì H nói lại “Tau cứ đào, đây không phải là đất của anh, tau đào ngoài đường”. Anh H2 tiếp tục nói “Tau thách mi đào, tau nhổ luôn”, H nói lại “Tau đào đó, coi thử mi mần chỉ”. Thấy Trần Minh H vẫn tiếp tục đào nên anh H2 dùng tay trái giữ lấy chiếc xuống của H, đồng thời tay phải tát mạnh vào mặt H một cái. Do bị tát bất ngờ làm Hợp choáng váng lùi ra sau, ngay lập tức H dùng hai tay cầm cán xuống dơ lên đánh loạn xạ nhiều phát từ trên xuống dưới, trái qua phải, phải qua trái về phía anh H2 trúng vào vùng đầu của anh H2. Khi H đánh phát đầu tiên trúng vào anh H2 thì phần cán xuống bị gãy khiến phần lưỡi xuống rơi ra. Trần Minh H tiếp tục dùng cán xuống đánh loạn xạ về phía anh H2 khiến cán xuống gãy thành nhiều đoạn nhỏ. Thấy vậy, bà Đ chạy vào can ngăn nhưng do H đang bị choáng váng, hoa mắt không phân biệt được ai nên bà Đ cũng bị H đánh trúng vào vùng đầu. Khi phát hiện ra anh H2 và bà Đồng Đ1 bị thương chảy máu ở đầu thì H dừng lại. Đúng lúc này, Trương Quang H6 vừa chạy vào dùng chân đạp vào vùng ngực của Trần Minh H thì H dùng đoạn cán xuống còn lại đánh hai phát từ trên xuống dưới trúng vào đỉnh đầu và khuỷu tay của H6. Sau đó, sợ H6 đánh tiếp nênTrần Minh H chạy lùi lại khoảng 20 mét rồi nhặt một chiếc rựa phát dơ lên dọa anh H6 “Đến đây tau chém chết”. Lúc này, mọi người chạy đến can ngăn nên H dừng lại và đưa bà Đ đi bệnh viện. Anh H2 cũng được người nhà đưa đi điều trị tại bệnh viện.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Trương Văn H2 ngày 21/8/2024:

  • + 01(Một) vết thương rách da, đang liền sẹo tại vị trí tại vùng trán bên phải, kích thước (2 x 0,4) cm. Vết thương dạng dọc. T1 vết thương cách đuôi mắt phải 7,5 cm. (Vết 01).
  • + 01(Một) vết thương rách da, đang liền sẹo tại vị trí tại vùng đầu bên trái, kích thước (1,5 x 0,2) cm. Vết thương dạng dọc. T1 vết thương cách đuôi mắt trái 12 cm. (Vết 02)
  • + 01(Một) vết thương rách da, đang liền sẹo tại vị trí đầu bên phải. Vết thương dạng dọc song song với vết (2), cách vết (2) 1cm. Kích thước (0,3 x 4,5) cm. (Vết 3)
  • + 01(Một) vết thương ở chính giữa đỉnh đầu, kích thước (0,2 x 3,6) cm. Vết thương dạng dọc. Đầu vết thương cách đầu vết (3) 5,5 cm. (Vết 4).
  • + 01(Một) vết thương ở vùng đỉnh đầu bên phải, kích thước (3,5 x 1) cm, dạng chữ Y. Đầu vết thương cách đầu vết (4) 3 cm. (vết 5).

Ngày 28/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của Trương Văn H2. Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 460/KLTTCT -TTPY ngày 05/9/2024:

Các kết quả chính:

  • + Tụ máu dưới nhện vùng trán bên trái đã điều trị nội khoa. Hiện tại không còn hình ảnh tụ máu dưới nhện vùng trán bên trái, trên phim chụp CLVT sọ não.
  • + Một số sẹo vết thương phần mềm tại các vị trí: Trán bên phải, đỉnh đầu, đỉnh đầu bên phải và thái dương đỉnh bên trái. Hiện tại ổn định.

Kết luận:

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn H2 tại thời điểm giám định là 16%. Trong đó:

Tụ máu dưới nhện vùng trán bên trái đã điều trị nội khoa. Hiện tại không còn hình ảnh tụ máu dưới nhện vùng trán bên trái, trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não, có tỷ lệ 09%.

Một sẹo vết thương trán bên phải, có tỷ lệ 03 %.

Một sẹo vết thương đỉnh đầu, có tỷ lệ 02 %.

Một sẹo vết thương đỉnh đầu bên phải, có tỷ lệ 01%.

Một sẹo vết thương thái dương – đỉnh bên trái, có tỷ lệ 01 %.

Một sẹo vết thương thái dương – đỉnh bên trái, có tỷ lệ 01 %.

Kết luận khác:

Vết thương trán bên phải, là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ bên phải sang bên trái.

Vết thương đỉnh đầu, là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới.

Vết thương đỉnh đầu bên phải, là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới.

Vết thương thái dương – đỉnh bên trái, là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới.

Vết thương thái dương – đỉnh bên trái, là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới.

Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể của bà Đặng Thị Đ ngày 21/8/2024:

  • + 01(Một) vết thương đang liền da tại vị trí đỉnh đầu, cách đường chân tóc trái 5cm, kích thước (4 x 1) cm.
  • + 01(Một) vết thương đang liền da tại vị trí đỉnh đầu, cách xoáy tóc 3 cm, kích thước (5 x 1) cm.

Ngày 03/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra quyết định trưng giám định tỷ lệ thương tích đối với bà Đ. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 669/KLTTCT-TTPY của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y ngày 05/12/2024, kết luận:

  • + Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Thị Đ tại thời điểm giám định là 02%.

Kết luận khác:

  • + Một sẹo vết thương đỉnh đầu là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới.
  • + Một sẹo vết thương đỉnh đầu bên trái là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới.
  • + Chẩm hiện tại không có dấu vết tổn thương, không có căn cứ để biện luận cơ chế.

Qúa trình điều tra, bà Đặng Thị Đ đã có đơn không yêu cầu khởi tố, xử lý hình sự đối với Trần Minh H và không yêu cầu đền bù dân sự.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Trương Quang H6 vào ngày 21/8/2024, thấy có 01(Một) vết thương xây xước da đã liền sẹo tại vị trí khuỷu tay trái, kích thước (3,5 x 0,2) cm.

Do vết thương nhẹ, đã hoàn toàn bình phục, không ảnh hưởng đến sức khỏe nên Trương Quang H6 đã có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích.

Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể Trần Minh H ngày 16/8/2024: không phát hiện thấy có dấu vết thương tích gì.

Bản Cáo trạng số 05/CT-VKSNgĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố bị cáo Trần Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viên kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Trần Minh H từ 30 đến 36 tháng tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà người bị hại và bị cáo thống nhất thoả thuận bồi thường thiệt hại trách nhiệm dân sự cho người bị hại là 30.000.000 đồng, đã bồi thường trước cho bị hại 14.000.000 đồng, bị cáo còn tiếp tục phải bồi thường cho người bị hại là 16.000.000 đồng.

- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc dao rựa phát dài 117cm, 01 xuống đào đất đã bị gãy thành 04 đoạn, trong đó một đoạn cán gỗ gắn với phần lưỡi xuống bằng kim loại, lưỡi xuống dài 27cm, các đoạn đã bị gẫy còn lại dài lần lượt là 31cm, 40 cm và 48cm.

-Về án phí. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bị hại anh Trương Văn H2 trình bày: Vào ngày 13/8/2024 bị cáo H chôn cột điện đi qua đất gia đình tôi thì tôi không đồng ý yêu cầu bị cáo tháo dỡ thì bị cáo không đồng ý, do vậy tôi gọi Xóm trưởng đến giải quyết, lúc xóm trưởng đến thì tôi và bị cáo có cải nhau nên bức xúc dơ tay tát bị cáo một cái thì bị cáo dùng xuống đánh tôi từ trên xuống và tôi bị thương ở vùng đầu ngất đi sau đó mọi người đưa đi bệnh viện cấp cứu. Quá trình tôi nằm viện thì bị cáo có đến thăm hỏi và bồi thường cho tôi 14.000.000 đồng. Nay tôi yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại như sau:

  • - Tiền chụp CLVT sựo não: 532.000 đồng.
  • - Tiền khám cận lâm sàng: 532.000 đồng.
  • - Tiền dịch vụ tiêm phòng SAT 100.000 đồng.
  • - Tiền viện phí: 373.584 đồng.
  • - Tiền xét nghiệm: 110.800 đồng.
  • - Tiền thuốc theo đơn: 100.000 đồng.
  • - Tiền mua dụng cụ y tế: 100.000 đồng.
  • - Tiền thuê xe từ nhà đến Bệnh viên đa khoa khu vực T2 bắc Nghệ An, rồi từ Bệnh viên đa khoa khu vực Tây bắc Nghệ An đến Bệnh viên hữu nghị Đa khoa N và từ Bệnh viên hữu nghị Đa khoa N về nhà tổng cộng là 2.300.000 đồng.
  • - Tiền thuê xe đi khám lại từ Nghĩa Đ2 đến Bệnh viên hữu nghị Đa khoa N và ngược lại là 2.000.000 đồng.
  • - Tiền chi phí giám định thương tật là 2.600.000 đồng.
  • - Tiền công người chăm sóc 7 ngày năm viên là 300.000 đồng/ngày x 7 ngày = 2.100.000 đồng.
  • - Tiền công nằm viện 7 ngày không làm được việc là 300.000 đồng/ngày x 7 ngày = 2.100.000 đồng.
  • - Tiền bồi thường mất thu nhập: 01 ngày đi làm thợ xây 350.000 đồng, mất hai tháng không làm được việc nên tiền mất thu nhập là 60 ngày x 350.000đồng/ngày = 21.000.000 đồng.

Tổng cộng các khoản yêu cầu là 33.948.384 đồng nhưng tại phiên toà tôi chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 30.000.000 đồng đã bồi thường trước 14.000.000 đồng. Nay tôi yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường là 16.000.000 đồng.

Về hành phạt xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đồng ý với mức bồi thường thiệt hại do người bị bại yêu cầu, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng, và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định: Khoảng 14 giờ ngày 13/8/2024, Trần Minh H cùng với mẹ đẻ bà Đặng Thị Đ và em dâu chị Trương Thị H5 kéo đường dây điện từ xóm T, xã N về nhà H tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Khi đào cọc qua trước nhà anh Trương Văn H2 thì anh H2 cùng con trai là Trương Quang H6 đi ra ngăn cản không cho đi qua nên hai bên xẩy ra thách thức nhau. Anh H2 nói “Không được đào ở đây” thì H nói lại “Tau cứ đào, đây không phải là đất của anh, tau đào ngoài đường”. Anh H2 tiếp tục nói “Tau thách mi đào, tau nhổ luôn”, H nói lại “Tau đào đó, coi thử mi mần chỉ”. Thấy Trần Minh H vẫn tiếp tục đào nên anh H2 dùng tay trái giữ lấy chiếc xuống của H, đồng thời tay phải tát mạnh vào mặt H một cái. Do bị tát bất ngờ H choáng váng lùi ra sau, ngay lập tức H dùng hai tay cầm cán xuống dơ lên đánh loạn xạ nhiều phát từ trên xuống dưới, trái qua phải, phải qua trái về phía anh H2 trúng vào vùng đầu của anh H2. Khi đánh phát đầu tiên trúng vào anh H2 thì phần cán xuống bị gãy khiến phần lưỡi xuống rơi ra. Trần Minh H tiếp tục dùng cán xuống đánh loạn xạ về phía anh H2 khiến cán xuống gãy thành nhiều đoạn nhỏ. Thấy vậy, bà Đ chạy vào can ngăn thì bị H đánh trúng vào vùng đầu. Khi phát hiện ra anh H2 và bà Đồng Đ1 bị thương chảy máu ở đầu thì H dừng lại. Đúng lúc này, Trương Quang H6 vừa chạy vào dùng chân đạp vào vùng ngực của Trần Minh H thì H dùng đoạn cán xuống còn lại đánh hai phát từ trên xuống dưới trúng vào đỉnh đầu và khuỷu tay của H6. Sau đó, sợ H6 đánh tiếp nên Trần Minh H chạy lùi lại khoảng 20 mét rồi nhặt một chiếc rựa phát dơ lên dọa anh H6 “Đến đây tau chém chết”. Lúc này, mọi người chạy đến can ngăn nên H dừng lại và đưa bà Đ đi bệnh viện. Anh H2 cũng được người nhà đưa đi điều trị tại bệnh viện. Hậu quả, H dùng xuống đánh gây thương tích cho anh Trương Văn H2 tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Hành vi dùng xuống đánh (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho anh Trương Văn H2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16% như nêu trên của bị cáo Trần Minh H đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Đúng như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Đây là vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng do bị cáo thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe, tính mạng của anh Trương Văn H2, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần phải xử lý nghiêm.

[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại; Bi cáo có bố là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương, tại phiên tòa người bị hại anh H2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo là lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại, người bị hại anh H2 cũng có một phần lỗi đối với bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong nhà và có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà xử phạt bị cáo ở mức án treo giao về cho chính quyền địa phương giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt và có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà hôm nay người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại trách nhiệm dân sự là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), bị cáo thống nhất bồi thường cho người bị hại là số tiền là 30.000.000 đồng nên ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo và người bị hại tại phiên toà. Bị cáo đã bồi thường trước cho người bị hại là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) nay còn bồi thường tiếp cho người bị hại là 16.000.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Công an có thu giữ một chiếc dao rựa phát dài 117cm và 01 xuống đào đất đã bị gãy thành 04 đoạn, trong đó một đoạn cán gỗ gắn với phần lưỡi xuống bằng kim loại, lưỡi xuống dài 27cm, các đoạn đã bị gẫy còn lại dài lần lượt là 31cm, 40 cm và 48cm. Xét thấy chiếc dao rựa phát và chiếc xuống không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và điều 65 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về cho UBND xã N – huyện N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Minh H bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Trương Văn H2 số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), nhưng bị cáo đã bồi thường trước cho người bị hại số tiền 14.000.000 đồng. Nay bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Trương Văn H2 số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357 và điều 468 của Bộ luật dân sự.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy một chiếc dao rựa phát dài 117cm và 01 xuống đào đất đã bị gãy thành 04 đoạn, trong đó một đoạn cán gỗ gắn với phần lưỡi xuống bằng kim loại, lưỡi xuống dài 27cm, các đoạn đã bị gẫy còn lại dài lần lượt là 31cm, 40 cm và 48cm. Chi tiết được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

- Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Minh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 800.000 đồng (T3 trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại, người liên quan (bà Đ) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt liên quan (anh H6) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người bị hại; Người liên quan;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nghĩa Đàn;
  • - Công an huyện Nghĩa Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn;
  • - UBND cấp xã nơi b/c cư trú;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Anh Xuân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Quang HoàPhan Sỹ HùngLương Anh Xuân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HSST ngày 17/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 04/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger