TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 07-11-2024. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tòng Văn Nghiến;
2. Bà Lê Thị Thanh Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Thị T; tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày: 20/3/1981, tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Không; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H (đã chết) và con bà Lường Thị L (đã chết); bị cáo có chồng là Lò Văn C, sinh năm 1978 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị xét xử tại Bản án số: 16/2020/HSST ngày 27/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 15/5/2022 chấp hành xong án phạt tù (đã được xóa án tích), chưa bị cơ quan Nhà nước xử phạt vi phạm hành chính lần nào. Bị tạm giữ ngày 27/8/2024, tạm giam từ ngày 05/9/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị T1 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 27/8/2024 bị cáo Lường Thị T đi bộ từ nhà ở bản P, xã C, huyện T đến bản C, xã C, huyện T để tìm mua ma tuý về bán kiếm lời. Khi đến bản Cộng, xã C bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái, không quen biết, nhìn giống người nghiện ma tuý, bị cáo chủ động hỏi mua ma tuý. Qua trao đổi bị cáo mua được của người đàn ông này 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng), mua được Heroine bị cáo cầm trong lòng bàn tay phải đi về. Khi về đến nhà bị cáo dùng móng tay cấu chia gói Heroine thành 16 phần, sử dụng các mảnh nilon có sẵn trong nhà gói thành 16 gói Heroine (trong đó có 12 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, 04 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng) và cất giấu toàn bộ 16 gói Heroine ở đầu giường ngủ. Hồi 10 giờ 20 phút cùng ngày bị cáo Lường Thị T đang ở nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ ở đầu giường ngủ của bị cáo 16 gói Heroine được gói bằng các mảnh nilon màu xanh, màu trắng. Vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 2,09 gam Heroine, gửi toàn bộ giám định chất ma túy, vật chứng hoàn lại sau giám định là 1,91 gam Heroine, 12 mảnh nilon màu xanh, 04 mảnh nilon màu trăng.
Tại bản Kết luận giám định số: 1406/KL-KTHS ngày 03/9/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Vật chứng thu giữ của Lường Thị T có tổng khối lượng 2,09 gam chất màu trắng dạng cục và dạng bột là chất ma tuý: Loại Heroin (Heroine)”.
Tại bản Cáo trạng số: 156/CT-VKSTG ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố: Bị cáo Lường Thị T về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù và không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 12 mảnh nilon màu xanh, 04 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lường Thị T; 01 gói niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng M1: 1,67 gam Heroine và M2: 0,24 gam Heroine. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt phù hợp cho bị cáo, không phạt bổ sung bằng tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo: Hồi 10 giờ 20 phút ngày 27/8/2024, tại bản Phang, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, Tổ công tác Công an huyện T bắt người phạm tội quả tang thu giữ của bị cáo Lường Thị T 01 gói Heroine có khối lượng 2,09 gam, mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng chất ma túy bị thu giữ thì bị cáo Lường Thị T đã phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
[2] Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện T nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Hành vi bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 27/3/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 15/5/2022 chấp hành xong án phạt tù (đã được xóa án tích). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là làm nông nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5] Kiểm sát viên đề nghị: Xét mức hình phạt Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Người bào chữa đề nghị: Xét thấy mức hình phạt người bào chữa đề nghị cho bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông, bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 27/8/2024. Quá trình điều tra, xét thấy khi mua bán ma túy, bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T không có căn cứ để điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 12 mảnh nilon màu xanh, 04 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lường Thị T; 01 gói niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng M1: 1,67 gam Heroine và M2: 0,24 gam Heroine là chất Nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về hành vi và các quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện T; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.
[10] Về án phí: Lẽ ra bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn đề nghị và tại phiên tòa xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lường Thị T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 27/8/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 12 mảnh nilon màu xanh, 04 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lường Thị T; 01 gói niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng M1: 1,67 gam Heroine và M2: 0,24 gam Heroine theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07/11/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hương |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Thị T
