Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-ST

Ngày 30/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

– Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng

– Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thanh Thúy, ông Hà Văn Tiêm

– Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lèo Văn N, sinh ngày: 27 tháng 5 năm 1996 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản S, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lèo Văn H, sinh năm 1977 và con bà Lò Thị H1, sinh năm 1977, bị cáo có vợ là Tòng Thị Q, sinh năm 1991 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/07/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  2. Lò Văn C, sinh ngày: 03 tháng 02 năm 1989 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lò Văn H2, sinh năm 1947 (đã chết) và con bà Lò Thị P, sinh năm 1952, bị cáo có vợ là Lò Thị M, sinh năm 1993 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại bản án số 66/2016/HSST ngày 16/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2015 (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/07/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 10 phút, ngày 30/07/2024, tại khu vực tổ I, phường Q, thành phố S Lèo Văn NLò Văn C bị tổ công tác Công an phường C phối hợp với Công an phường Q phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng mở ra bên trong có chứa chất cục bột màu trắng và 02 viên nén đóng dạng màu hồng C tự giác lấy trong túi quần phía sau bên phải ra giao nộp và khai nhận là ma túy, cất giữ để sử dụng.

Ngày 31/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì và cân tịnh xác định khối lượng vật chứng. Kết quả: Chất cục bột màu trắng có khối lượng 0,12 gam, trích 0,06 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu C. Còn lại 0,06 gam lưu kho ký hiệu G; 02 viên nén đóng dạng hình tròn màu hồng có khối lượng 0,20 gam, trích 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N. Còn lại 0,10 gam lưu kho ký hiệu M.

Kết luận giám định số 1538/KL - KTHS ngày 01/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận "Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại loại Heroine; (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định V là 0,06 gam. Tổng khối lượng ma túy là 0,12 gam loại Heroine.

Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam; loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/7/2024, Lèo Văn N ra đường Q đón xe taxi đến nhà Lò Văn C chơi, khi gần đến nhà Chương N1 xuống xe đi bộ đến cổng nhà C gọi C ra ngoài nói chuyện. Trong lúc nói chuyện N1 bảo với C là có 400.000 VNĐ muốn rủ C đi mua ma túy về cùng sử dụng. C đồng ý và cùng N1 đến khu vực ngã ba điện lực (thuộc tổ A, phường Q, thành phố S) để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến nơi N1C xuống xe đi bộ một đoạn thì N1 đưa 400.000 VNĐ cho C đi mua ma túy, còn N1 đứng chờ ở ngoài đường. C cầm tiền đi bộ vào đường dân sinh đối diện Công ty cổ phần M1 thuộc tổ I, phường Q thì gặp một người nam giới không quen biết, nhìn giống người sử dụng ma túy, C lại gần nói chuyện và mua được của người đó 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có cục bột màu trắng và 02 viên nén màu hồng đóng dạng với số tiền 400.000 VNĐ. Sau khi mua bán xong

2

người thanh niên đó đi đâu Chuơng không biết. C cầm gói ma túy cất vào trong túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đi bộ ra chỗ N1 đang đứng đợi, khi gặp N1, C nói đã mua được ma túy và cùng nhau đi tìm nơi sử dụng, cả hai đang đi bộ ở khu vực tổ I, phường Q, thành phố S thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ trong vụ án, C khai mua của một người người nam giới không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, buộc các bị cáo phải chịu toàn bộ trách nhiệm về số ma tuý thu giữ trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 472/CT-VKS ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lèo Văn N, Lò Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lèo Văn N, Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lèo Văn N từ 18 đến 22 tháng tù. Xử phạt Lò Văn C từ 18 đến 22 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc màu vàng và mẫu lưu ký hiệu G = 0,06 gam; mẫu lưu kho ký hiệu M= 0,10 gam.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến

3

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

  1. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 30/07/2024, Lèo Văn NLò Văn C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,20 gam Methamphetamine và 0,12 gam Heroine, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng:
    • – Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 15 phút ngày 30/7/2024 tại Tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lèo Văn N, Lò Văn C cùng vật chứng thu giữ là 0,20 gam Methamphetamine và 0,12 gam Heroine.
    • – Lời khai nhận tội của bị cáo.
    • – Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1538/KL - KTHS ngày 01/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh S.
    • – Lời khai ông Cà Văn C1, trú tại tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

    Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lèo Văn N, Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

  2. Về tính chất mức độ của hành vi: Các bị cáo Lèo Văn N, Lò Văn C phạm tội với tổng khối lượng 0,20 gam Methamphetamine và 0,12 gam Heroine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, cần có hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

    Xét về vai trò: Bị cáo Lèo Văn N là người chủ động rủ C đi mua ma tuý, đồng thời là người có tiền đưa cho C. Bị cáo C là người trực tiếp cầm tiền đi tìm mua ma tuý, trực tiếp trao đổi với người có ma tuý, sau khi trao đổi thoả thuận đã mua được ma tuý mang về để cùng N sử dụng. Hai bị cáo giữ vai trò ngang nhau trong vụ án, cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Đối với Lò Văn C có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần có mức án cao hơn nhằm giáo dục, răn đe.

4

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội

của mình, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  1. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Vật chứng của vụ án: Đối với số ma tuý còn lại sau khi trừ mẫu giám định là loạit cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy cùng 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu và 01 mảnh giấy bạc màu vàng không có giá trị sử dụng.
  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Lèo Văn N, Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt Bị cáo Lèo Văn N 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/07/2024.

    Xử phạt Bị cáo Lò Văn C 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/07/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 0075132 và G = 0,06 gam Heroine ; mẫu lưu kho ký hiệu M= 0,10 gam Mehamphetamine (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 0075132 của Công an thành phố S).

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lèo Văn N, Lò Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/10/2024).

5

Các hội thẩm

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Hoàng Thị Bích Hồng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lèo Văn N - Lò Văn Ch
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger