Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

Bản án số: 04/2024/KDTMST

Ngày: 22/10/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Khắc Tuấn, bà Đào Thị Minh Nguyệt.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lương Ngọc Thắng, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức, Kiểm sát viên.

Ngày 22/10/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ kinh doanh thương mại thụ lý số: 03/2024/TLST-KDTM ngày 03/6/2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXX-KDTM ngày 18/9/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/QĐST-KDTM ngày 28/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng N1;
  • Trụ sở: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
  • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng Giám đốc.
  • - Đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Châu G – Giám đốc A chi nhánh H1 (Quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-HĐTV-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám đốc A về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án).
  • - Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng:
    • + Ông Nguyễn Phú Q - TP. Kiểm tra Giám sát Nội bộ A chi nhánh H1 (có mặt).
    • + Bà Vũ Thị Thu T - Cán bộ pháp chế A chi nhánh H1 (có mặt).
  • - Bị đơn: Công ty Cổ phần V1 (Công ty V1).
  • Địa chỉ trụ sở chính: SH19, đường M, Phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.
  • Người đại diện theo pháp luật: Đặng Văn D – Giám đốc ( vắng mặt).
  • Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Minh Đ, sinh 1981.
  • HKTT: Số H, ngõ B Đ, phường L, quận B, TP Hà Nội.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Đặng Việt L, sinh năm 1974; “vắng mặt”
    2. ĐKHKTT: P24, tổ D, tập thể Viện khoa học Việt Nam, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
    3. Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Anh Vũ Ngọc B, sinh năm 1991;
    4. ĐKHKTT: Số 2002 CT1C C, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. “vắng mặt”.
    5. Bà Nguyễn Thị Việt H, sinh năm 1975; “vắng mặt”.
    6. ĐKHKTT: P24, tổ D, tập thể Viện khoa học Việt Nam, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
    7. Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Nhật L1, sinh năm 1997;
    8. ĐKHKTT: TDP C, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Công ty V1 và A Chi nhánh H1 ký Hợp đồng tín dụng số 2203-LAV-202301409 ngày 03/4/2023. Theo đó, A Chi nhánh H1 cho Công ty V1 vay số tiền tối đa 50.000.000.000 đồng (năm mươi tỷ đồng); phương thức cho vay: hạn mức; mục đích sử dụng vốn vay: bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng, nhôm, xi măng, đá ốp lát, đá thạch anh... và các mặt hàng khác phù hợp với đăng ký kinh doanh và quy định của pháp luật; thời hạn duy trì hạn mức tín dụng: 12 tháng. Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2203-LAV-202301409 ngày 03/4/2023, A Chi nhánh H1 đã giải ngân cho Công ty V1 theo các giấy nhận nợ sau:

  • - Giấy nhận nợ số 2203LDS202305889 ngày 23/10/2023: Số tiền giải ngân: 6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng); lãi suất: 8,5%/năm; thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 23/10/2023 đến ngày 23/4/2024.
  • - Giấy nhận nợ số 2203LDS202305950 ngày 24/10/2023: Số tiền giải ngân: 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng); lãi suất: 8,5%/năm; thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 24/10/2023 đến ngày 24/04/2024.
  • - Giấy nhận nợ số 2203LDS202306004 ngày 26/10/2023: Số tiền giải ngân: 3.280.000.000 đồng (ba tỷ hai trăm tám mươi triệu đồng); lãi suất: 8,5%/năm; thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 26/10/2023 đến ngày 25/04/2024.
  • - Giấy nhận nợ số 2203LDS202400654 ngày 26/01/2024: Số tiền giải ngân: 24.000.000.000 đồng (hai mươi tư tỷ); lãi suất: 8,5%/năm; thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 26/01/2024 đến ngày 25/7/2024.
  • - Giấy nhận nợ số 2203LDS202400730 ngày 30/01/2024: Số tiền giải ngân: 11.720.000.000 đồng (mười một tỷ bảy trăm hai mươi nghìn đồng); lãi suất: 8,5%/năm; thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 30/01/2024 đến ngày 29/7/2024.

Tổng số tiền đã giải ngân theo các giấy nhận nợ trên là: 50.000.000.000 đồng.

Biện pháp bảo đảm: Ông Đặng Việt L và bà Nguyễn Thị Việt H đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liên với đất số công chứng: 06051/2023/HĐTC ngày 24/7/2023 với A Chi nhánh H1, dùng tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty V1 tại A Chi nhánh H1. Nghĩa vụ trả nợ bao gồm: nợ gốc là: 50.000.000.000 đồng và nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, nợ lãi chậm trả, các khoản phí và phí phát sinh liên quan đến khoản vay của Công ty V1 tại Ngân hàng. Tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 888359, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS42681 do Sở T2 cấp ngày 23/8/2018. Trong đó:

  • - Thửa đất là thửa đất số 15-C2; tờ bản đồ số 00; địa chỉ: Số A lô C, khu đô thị N, phường P, quận T, thành phố Hà Nội; diện tích: 198m²; hình thức sử dụng đất: sử dụng riêng; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng lâu dài; nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
  • - Tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ; diện tích xây dựng: 99,0m²; diện tích sàn: 279,0m²; hình thức sở hữu: sở hữu riêng.

Vi phạm nghĩa vụ: Tính đến ngày 22/10/2024, tổng dư nợ của Công ty V1 theo Hợp đồng tín dụng số 2203-LAV-202301409 ngày 03/4/2023 tại A Chi nhánh H1 là: 53.022.770.056 đồng (Năm mươi ba tỷ không trăm hai mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn không trăm năm mươi sáu đồng), trong đó:

  • - Nợ gốc: 50.000.000.000 đồng.
  • - Nợ lãi trong hạn: 2.734.814.531 đồng.
  • - Nợ lãi chậm trả: 48.711.032 đồng.
  • - Nợ lãi quá hạn: 239.244.493 đồng.

A Chi nhánh H1 đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có biên bản đôn đốc yêu cầu Công ty V1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã ký. Tuy nhiên, Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho A, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với A, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A..

A đã có Đơn khởi kiện gửi Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây để khởi kiện Công ty V1. Tại phiên tòa này, A một lần nữa đề nghị Tòa đưa vụ án ra xét xử và chấp nhận toàn bộ các yêu cầu sau của A:

Căn cứ các nội dung nêu trên, A yêu cầu Tòa án thị xã S tuyên buộc như sau:

  1. Tuyên buộc Công ty V1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) theo Hợp đồng tín dụng số 2203-LAV-202301409 ngày 03/4/2023 tính đến hết ngày 22/10/2024 là: 53.022.770.056 đồng (Năm mươi ba tỷ không trăm hai mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn không trăm năm mươi sáu đồng), trong đó:
    • - Nợ gốc: 50.000.000.000 đồng.
    • - Nợ lãi trong hạn: 2.734.814.531 đồng.
    • - Nợ lãi chậm trả: 48.711.032 đồng.
    • - Nợ lãi quá hạn: 239.244.493 đồng.
  2. Tuyên buộc Công ty V1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế Công ty V1 trả hết nợ gốc cho A.
  3. T1 nếu Công ty V1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A thông qua A Chi nhánh H1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
  4. T1 nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A thông qua A Chi nhánh H1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu của Công ty V1 để thu hồi nợ.

- Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:

Về số tiền nợ gốc, lãi, phí phát sinh của Công ty V1 theo trình bày của đại diện Ngân hàng, đại diện Công ty không có ý kiến gì. Tuy nhiên, hiện nay, phía Công ty V1 đang tiến hành thu xếp tiền để tất toán khoản vay của Công ty tại A để chuyển dư nợ vay sang ngân hàng khác. Đề nghị tòa án, nguyên đơn tạo điều kiện để Công ty V1 có thêm thời gian thu xếp tài chính thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng.

- Về phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 888359, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS42681 do Sở T2 cấp ngày 23/8/2018 được cấp đổi từ GCNQSDĐ số AÐ 381451 do UBND quận T cấp ngày 26/4/2006 (do bên thế chấp nhận chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất theo số công chứng 3485/2018 lập ngày 20/8/2018 tại văn phòng C1). Từ khi thế chấp tài sản cho ngân hàng đến này vẫn giữ nguyên hiện trạng, không có cơi nới, sửa chữa gì thêm.

Hiện nay, phía Công ty V1 đang tiến hành thu xếp tiền để tất toán khoản vay của Công ty tại A để chuyển sang ngân hàng khác. Đề nghị tòa án, nguyên đơn tạo điều kiện để Công ty V1 có thêm thời gian để thu xếp tài chính thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty V1 hoàn trả số tiền vay, trường hợp nếu Công ty V1 không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì chúng tôi đồng ý để ngân hàng thực hiện các bước xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định pháp luật về thu thập chứng cứ và xét xử tại phiên tòa.

Các đương sự tham gia tố tụng cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 117, 298, 299, 317, 320, 323, 325, 401 và 463 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng N1 với Công ty V1.
  2. Buộc Công ty V1 phải thanh toán cho Ngân hàng N1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/10/2024 là: 53.022.770.056 đồng (Năm mươi ba tỷ không trăm hai mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn không trăm năm mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 50.000.000.000 đồng, N lãi trong hạn: 2.734.814.531 đồng, N lãi chậm trả: 48.711.032 đồng, N lãi quá hạn: 239.244.493 đồng.

Kể từ ngày 23/10/2024, Công ty V1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Nếu Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu nợ. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CN 888359, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS42681 do Sở T2 cấp ngày 23/8/2018 được cấp đổi từ GCNQSDĐ số AÐ 381451 do UBND quận T cấp ngày 26/4/2006 đứng tên Ông Đặng Việt L và bà Nguyễn Thị Việt H.

  1. Về án phí: Công ty V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng N1 khởi kiện Công ty V1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng N1 khởi kiện vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng với Công ty V1, nguyên đơn có nơi cư trú tại thị xã S Hà Nội. Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét thấy: Tại các Giấy nhận nợ số 2203LDS202305889 ngày 23/10/2023; Giấy nhận nợ số 2203LDS202305950 ngày 24/10/2023; Giấy nhận nợ số 2203LDS202306004 ngày 26/10/2023; Giấy nhận nợ số 2203LDS202400654 ngày 26/01/2024; Giấy nhận nợ số 2203LDS202400730 ngày 30/01/2024 với tổng số tiền đã giải ngân theo các giấy nhận nợ trên là: 50.000.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 2203-LAV-202301409 ngày 03/4/2023. Công ty V1 là người đề nghị vay vốn, ký kết hợp đồng tín dụng với A và nhận số tiền vay 50.000.000.000 đồng, hồ sơ vay có đầy đủ chứng từ hóa đơn liên quan đến mục đích vay vốn, số tiền giải ngân được A chuyển vào tài khoản của bên thụ hưởng theo đúng quy định. Nên Ngân hàng yêu cầu Công ty V1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là có cơ sở.

- Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 yêu cầu Công ty V1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng:

Hợp đồng tín dụng số 2203-LAV-202301409 ngày 03/4/2023 giữa Ngân hàng với Công ty V1 được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên cho vay là Ngân hàng và bên vay là Công ty V1. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên cho vay là Ngân hàng đã giải ngân, Công ty V1 đã nhận đủ số tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, Công ty V1 thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 2203-LAV-202301409 ngày 03/4/2023. Do vậy, việc Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Công ty V1 thanh toán toàn bộ khoản nợ là phù hợp với thỏa thuận của hai bên theo Hợp đồng tín dụng và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc Công ty V1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến hết ngày 22/10/2024 là: 53.022.770.056 đồng (Năm mươi ba tỷ không trăm hai mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn không trăm năm mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 50.000.000.000 đồng, N lãi trong hạn: 2.734.814.531 đồng, N lãi chậm trả: 48.711.032 đồng, N lãi quá hạn: 239.244.493 đồng, và kể từ ngày 23/10/2024, Công ty V1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến ngày thực tế Công ty V1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với Hợp đồng tín dụng đã ký cũng như phù hợp với các quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

[2.2] Để bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng, Ông Đặng Việt L và bà Nguyễn Thị Việt H đã thế chấp tài sản của mình cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp là: Tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 888359, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS42681 do Sở T2 cấp ngày 23/8/2018 được cấp đổi từ GCNQSDĐ số AÐ 381451 do UBND quận T cấp ngày 26/4/2006 đứng tên Ông Đặng Việt L và bà Nguyễn Thị Việt H. Tài sản thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của Pháp luật.

Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng trong trường hợp Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Xét Hợp đồng thế chấp số 06051/2023/HĐTC ngày 24/7/2023 được ký giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng với bên thế chấp là Ông Đặng Việt L và bà Nguyễn Thị Việt H. Hợp đồng được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên nhận thế chấp với bên thế chấp là chủ sở hữu tài sản hợp pháp. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích được thực hiện quyền nghĩa vụ của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng thế chấp có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng.

[3] Về án phí: Công ty V1 phải chịu án phí Theo quy định của pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 117, 298, 299, 317, 320, 323, 325, 401 và 463 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng N1 với Công ty V1.
  2. Buộc Công ty V1 phải thanh toán cho Ngân hàng N1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/10/2024 là: 53.022.770.056 đồng (Năm mươi ba tỷ không trăm hai mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn không trăm năm mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc: 50.000.000.000 đồng, N lãi trong hạn: 2.734.814.531 đồng, N lãi chậm trả: 48.711.032 đồng, N lãi quá hạn: 239.244.493 đồng.

Kể từ ngày 23/10/2024, Công ty V1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Nếu Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu nợ. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CN 888359, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS42681 do Sở T2 cấp ngày 23/8/2018 được cấp đổi từ GCNQSDĐ số AÐ 381451 do UBND quận T cấp ngày 26/4/2006 đứng tên Ông Đặng Việt L và bà Nguyễn Thị Việt H.

  1. Về án phí: Công ty V1 phải chịu 161.022.770 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N1 80.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số 0000931 ngày 03/6/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Sơn Tây.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TX Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lưu Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/KDTMST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2024/KDTMST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Agribank-Bảo minh khang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger