Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án hình sự sơ thẩm

Số: 04/2024/HSST

Ngày 18/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Ngọc Anh.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Dũng, ông Trần Giai Thưởng.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lan Hương, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành: Bà Nguyễn Thị Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm đã thụ lý số: 01/2024/TLST-HS, ngày 02/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HS, ngày 08/10/2024 đối với bị cáo:

Bùi Quốc A, sinh năm 2001.

HKTT: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; tạm trú: Khu phố Đ, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình D, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Hồng L, sinh năm 1975; bị cáo là con duy nhất; chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/7/2024 đến ngày 18/7/2024, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Chị Trần Thị N, sinh năm 1983 (vắng mặt).

HKTT: Thôn C, xã L, huyện G, thành phố Hà Nội.

Tạm trú: Khu phố Đ, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Hồng L, sinh năm 1975 (có mặt). HKTT: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Quốc A làm nghề chụp ảnh tự do cùng bạn gái là Phạm Thị Phương L1 sinh năm 2003 thuê trọ tại nhà trọ của bà Bùi Thị Thanh H, sinh năm 1971 ở khu phố Đ, phường X, thị xã T từ tháng 9/2023.

Khoảng 09 giờ ngày 28/6/2024, Quốc A đang ở phòng trọ một mình thì thấy chị Trần Thị N, sinh năm 1983, HKTT: Thôn C, xã L, huyện G, Hà Nội (cạnh phòng trọ của Quốc A) không có ở phòng, cửa phòng không khóa. Do không có tiền mua ống kính máy ảnh nên Quốc A nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chị N. Quốc A đi vào phòng của chị N thì thấy trên nền gạch cạnh đầu giường có 02 cọc tiền được buộc bằng dây chun (loại tiền mệnh giá 2000đ và 1000đ) và 01 con lợn nhựa màu đỏ. Quốc A nhấc con lợn nhựa lên lắc kiểm tra thì thấy bên trong con lợn có tiền. Quốc A cầm con lợn nhựa trên đi về phòng của mình rồi dùng 01 con dao loại dao gọt hoa quả, cán bằng gỗ dài khoảng 20cm ở trong phòng rạch con lợn ra, đếm được 6.500.000đ. Quốc A để số tiền này lên mặt bàn rồi khóa cửa đi bộ ra cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1978, ở khu phố Đ, phường X, thị xã T mua 01 con lợn nhựa màu đỏ giống con lợn nhựa của chị N rồi mang về phòng của chị N. Quốc A dùng con dao nêu trên rạch vào vị trí đút tiền của con lợn rồi cho một số tờ tiền 1000đ và 2000đ nhưng không nhớ là bao nhiêu tiền trong tổng số 6.500.000đ đút vào con lợn. Sau đó, Quốc A mang con lợn này sang phòng của chị N để vào đúng vị trí ban đầu rồi đi về phòng. Chiều tối cùng ngày, Quốc A mang con lợn nhựa của chị N ra cổng vứt vào thùng rác.

Sau đó, Quốc A liên lạc với Lê Hải P, sinh năm 2000. HKTT: Số C, đường C, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tạm trú: Số D đường T, phường K, quận T, Hà Nội đặt mua ống kính máy ảnh hết 7.700.000đ. P đồng ý và hẹn Quốc A ra địa chỉ: Số A, T, phường Đ, quận H, Hà Nội để xem hàng và trả tiền. Tuy nhiên, do bận việc không đi được nên Quốc A gọi điện cho Dương Văn A1, sinh năm 2002, HKTT: Thôn B, xã D, huyện G, Hà Nội (là bạn làm cùng studio chụp ảnh với Quốc A) nhờ A1 cầm 6.500.000đ ra trả cho P và lấy ống kính máy ảnh giúp Quốc A, số tiền còn thiếu 1.200.000đ, Quốc A hẹn P khi nào có lương sẽ trả nốt, P đồng ý. Ngày 05/7/2024, Quốc A đã trả nốt số tiền 1.200.000đ cho P.

Khoảng 19h45' ngày 09/7/2024, Quốc A tiếp tục đi vào phòng trọ của chị N để trộm cắp tài sản. Quốc A thấy 01 con lợn nhựa mau đỏ rồi cầm lên lắc nhưng thấy không có nhiều tiền nên Quốc A không lấy mà đi về phòng của mình.

Ngày 10/7/2024, chị Trần Thị N đã làm đơn trình báo Công an thị xã T, đồng thời giao nộp 01 thẻ nhớ camera có lưu giữ hình ảnh đối tượng đột nhập vào phòng trọ của chị ngày 09/7/2024 trộm cắp tài sản.

Ngày 10/7/2024, Quốc A đã đến Cơ quan điều tra Công an thị xã T đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tiền của chị N như đã nêu ở trên và tự giác giao nộp:

  • + 01 con dao loại dao gọt hoa quả, chuôi bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 20cm.
  • + 01 ống kính máy ảnh hiệu Canon EW-83H.
  • + 01 điện thoại Iphone 12 màu trắng, lắp sim số 0976.524.958, ốp lưng bằng nhựa màu đen, trên mặt ốp lưng có dán hình trái tim màu trắng.

Bản cáo trạng số: 120/CT-VKSTT, ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố Bùi Quốc A về tội “trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Bùi Quốc A về tội “trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điều 173; điều 65; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, điều 51; điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt Bùi Quốc A từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao loại dao gọt hoa quả, chuôi bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 20cm.

Trả lại cho bị cáo: 01 ống kính máy ảnh hiệu Canon EW-83H; 01 điện thoại hiệu Iphone 12 màu trắng, lắp sim số 0976.524.958, ốp lưng bằng nhựa màu đen, trên mặt ốp lưng có dán hình trái tim màu trắng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lưu hồ sơ 01 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh, âm thanh hỏi cung bị cáo Bùi Quốc A; 01 USB lưu giữ hình ảnh vụ việc.

Bị cáo nhận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thị xã T,Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu hồi được và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 28/6/2024, tại khu nhà trọ của bà Bùi Thị Thanh H ở khu phố Đ, phường X, thị xã T. Bùi Quốc A đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt chị Trần Thị N 01 con lợn nhựa màu đỏ bên trong có 6.500.000đ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “trộm cắp tài sản”, phạm vào khoản 1, điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã T, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, dư luận xã hội đòi hỏi phải xử lý nghiêm. Bởi vậy cần phải có hình phạt nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét thấy, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải; đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội từ tháng 02/2020 đến tháng 01/2022, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/7/2024, bà Nguyễn Hồng L là mẹ đẻ bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho chị N số tiền 6.500.000đ. Chị N không có yêu cầu gì khác, do vậy không xem xét.

Đối với số tiền 6.500.000đ bà L không yêu cầu Quốc A phải trả cho bà, do vậy không xem xét.

[4] Về vật chứng:

Đối với 01 con dao loại dao gọt hoa quả, chuôi bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 20cm, đây là công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 ống kính máy ảnh hiệu Canon EW-83H là tài sản của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.

Cơ quan điều tra có thu giữ của bị cáo 01 điện thoại Iphone 12 màu trắng, lắp sim số 0976.524.958, ốp lưng bằng nhựa màu đen, trên mặt ốp lưng có dán hình trái tim màu trắng. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với Dương Văn A1 là người giúp Quốc A cầm 6.500.000đ đem trả cho Lê Hải P, tuy nhiên A1 không biết đó là tiền do phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với A1 là phù hợp.

Đối với anh Lê Hải P là người bán ống kính máy ảnh cho Quốc A nhưng không biết số tiền mua ống kính là tiền do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh P là phù hợp.

Đối với chị Phạm Thị Phương L1 là người ở cùng phòng trọ với Bùi Quốc A, nhưng chị L1 không biết Quốc A trộm cắp tiền của chị N. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị L1 là phù hợp.

Đối với 01 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh, âm thanh hỏi cung bị cáo Quốc A và 01 USB lưu giữ hình ảnh vụ việc, cần lưu hồ sơ vụ án.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc A phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, điều 173; điều 65; điểm b, i, s, khoản 1, 2 điều 51; điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2, điều 106; điểm b, khoản 3, điều 106; điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án:

Xử phạt: Bùi Quốc A 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh nơi bị cáo tạm trú giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao loại dao gọt hoa quả, chuôi bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 20cm.

Trả lại cho bị cáo:

  • + 01 ống kính máy ảnh hiệu Canon EW-83H.
  • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 màu trắng, lắp sim số 0976.524.958, ốp lưng bằng nhựa màu đen, trên mặt ốp lưng có dán hình trái tim màu trắng, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Lưu hồ sơ 01 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh, âm thanh hỏi cung bị cáo; 01 USB lưu giữ hình ảnh vụ việc.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND tx Thuận Thành.
  • - THADS tx Thuận Thành.
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HSST ngày 18/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 04/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger