|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/KDTM-ST Ngày: 30 - 09 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Biên và bà Nguyễn Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 05/2024/TLST-KDTM ngày 20 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-KDTM ngày 30 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C (viết tắt là V3); địa chỉ: Số A, đường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Minh B – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 141/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3.2 ngày 31/01/2024 của V3):
- Ông Nguyễn Thế X - chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần C chi nhánh B1. Có mặt.
- Ông Vũ Văn M - chức vụ: Trưởng phòng KHDN Ngân hàng Thương mại Cổ phần C chinh nhánh Bắc T. Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH X1 (viết tắt là Công ty X1); địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Người đại diện theo pháp luật: ông Mai Văn Q - Chức vụ: Giám đốc. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Vi Thị Mai L, sinh năm 1967 và ông Mai Văn Q, sinh năm 1963; địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
2
3.2. Ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T; cùng địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
3.3. Ông Lê Xuân L2 và bà Phạm Thị S; cùng địa chỉ: Khu Phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
3.4. Ông Vũ Xuân K và bà Nguyễn Thị K1; cùng địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt ông K, vắng mặt bà K1.
3.5. Ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V; cùng địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
3.6. Ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H; cùng địa chỉ: Tổ C, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/05/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
V3 chi nhánh B1 và Công ty X1 đã ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 2400002318/2023-HĐCVHM/NHCT424-MAI QUAN ngày 05/10/2023 (được viết tắt là hợp đồng tín dụng), với số tiền là: 21.000.000.000 đồng, bao gồm cả các khoản nợ được điều chỉnh bởi Hợp đồng cho vay số 2400002318/2022-HĐCVHM/NHCT424-MAI QUAN ngày 11/08/2022 đã được Công ty X1 thỏa thuận, ký kết với V3 chi nhánh B1, mục đích sử sụng vốn để bổ sung vốn lưu động chế biến, sản xuất kinh doanh gỗ các loại. Chi tiết theo từng giấy nhận nợ sau:
| TT | Ngày giải ngân | Số tiền | Thời hạn vay | Hạn trả nợ | Lãi trong hạn 9%/năm | Lãi quá hạn 150%/năm |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 28/04/2023 | 5.000.000.000 | 06 tháng | 30/10/2023 | 256.424.658 | 132.404.383 |
| 2 | 31/08/2023 | 7.410.506.489 | 06 tháng | 29/02/2024 | 380.067.620 | 84.775.829 |
| 3 | 30/06/2023 | 650.000.000 | 06 tháng | 02/01/2024 | 33.336.986 | 12.123.959 |
| 4 | 09/06/2023 | 1.903.000.000 | 06 tháng | 11/12/2023 | 97.600.438 | 40.699.906 |
| 5 | 06/07/2023 | 2.339.690.701 | 06 tháng | 08/01/2024 | 119.997.287 | 41.900.748 |
| 6 | 05/10/2023 | 600.000.000 | 06 tháng | 05/04/2024 | 30.772.603 | 4.182.840 |
| 7 | 29/06/2023 | 1.000.000.000 | 06 tháng | 29/12/2023 | 51.287.671 | 19.146.664 |
| 8 | 06/10/2023 | 390.000.000 | 06 tháng | 08/04/2024 | 20.002.192 | 2.573.708 |
| 9 | 14/09/2023 | 800.000.000 | 06 tháng | 14/03/2024 | 23.734.699 | 7.061.941 |
| CỘNG | 20.093.197.190 | 1.013.224.154 | 344.869.978 | |||
Để đảm bảo cho các khoản nợ tại V3 chi nhánh B1, Công ty X1 đã thế chấp các tài sản đảm bảo, việc thế chấp tài sản đảm bảo được quy định chi tiết tại các hợp đồng thế chấp tài sản ký kết giữa V3 chi nhánh B1 với Công ty X1 và bên thứ ba, cụ thể như sau:
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-LAN TRUONG ngày 30/06/2017, ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số Lô 42, tờ bản đồ số 215-509-6-a, tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 253894 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 08/05/2012 cho ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T.
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-LUC SOAN ngày 30/06/2017, ông Lê Xuân L2 và bà Phạm Thị S thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 70, tờ bản đồ số 18, địa chỉ tại Khu phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 282788 do Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 03/02/2015 cho ông Lê Xuân L2 và bà Phạm Thị S.
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-KIEN KHANH ngày 30/06/2017, ông Vũ Xuân K và bà Nguyễn Thị K1 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 81, tờ bản đồ số 41, địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, Tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX594014 do UBND huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Vũ Xuân K và bà Nguyễn Thị K1.
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-SACH VIET ngày 11/07/2017, ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 257(5), tờ bản đồ số 03, địa chỉ tại xã H, Huyện H, Tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC057418 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 06/10/2010 cho ông Hoàng Văn S1 và Bà Mai Thị V.
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-LAN TRUONG CH051765 ngày 22/09/2017, ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 593, tờ bản đồ số 7, địa chỉ tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 051765 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 06/06/2017 cho ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T.
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2018/HĐBĐ/NHCT424-CI87878+CH006076 ngày 26/04/2018, ông Mai Văn Q và bà Vi Thị Mai L thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 31, địa chỉ tại tiểu Khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 587878 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 09/01/2018 cho ông Mai Văn Q và bà Vi Thị Mai L.
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424/BY 781342 ngày 29/01/2019 ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 31-BĐĐC 2014, địa chỉ tại thị trấn H, Huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 781342 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 16/06/2015 cho ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H.
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424/C 1587152 ngày 29/01/2019, ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 746, tờ bản đồ số 12-BĐĐC 2014, địa chỉ tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 587152 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 11/05/2018 cho ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H.
- - Hợp đồng thế chấp tài sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424-36A-053.91 ngày 11/03/2019, Công ty X1 thế chấp xe ô tô, biển kiểm soát 36A-053.91 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 062386 do phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 02/03/2019 cho Công ty X1.
- - Hợp đồng thế chấp tài sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424-36A-230.43 ngày 11/03/2019, Công ty X1 thế chấp xe ô tô, biển kiểm soát 36A-230.43 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 062390 do phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 02/03/2019 cho Công ty X1.
- - Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2022/HĐBĐ/NHCT424/CN 012878 ngày 18/07/2022, Công ty X1 thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 460, tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo GCN số CN 012878 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 27/08/2018 cho Công ty X1.
3
4
Quá trình sử dụng vốn, Công ty X1 đã vi phạm hợp hợp đồng tín dụng, không thanh toán được các khoản nợ gốc lãi đến hạn tại ngân hàng, để phát sinh nợ gốc và lãi quá hạn kể từ ngày 30/10/2023, nợ gốc với số tiền 5.000.000.000 đồng; phát sinh quá hạn từ ngày 30/10/2023. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc để yêu cầu công ty trả nợ, gửi thông báo nợ đến hạn, nợ quá hạn, tuy nhiên Công ty X1 không trả nợ theo đúng cam kết, vi phạm các hợp đồng tín dụng đã ký, toàn bộ khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 30/10/2023.
Tính đến ngày 21/05/2024, tổng số tiền Công ty X1 còn nợ của V3 chi nhánh B1 theo Hợp đồng tín dụng là 21.451.291.322 đồng, trong đó: gốc quá hạn là 20.093.197.190 đồng, tiền lãi trong hạn 1.013.224.154 đồng, lãi quá hạn là 344.869.978 đồng.
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của V3, V3 yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc Công ty X1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền 21.451.291.322 đồng còn nợ của V3 tạm tính đến ngày 21/05/2024, trong đó: nợ gốc quá hạn là là 20.093.197.190 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.013.224.154 đồng, nợ lãi quá hạn là 344.869.978 đồng và các khoản lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng cho đến khi Công ty X1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ; trường hợp Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V3, thì V3 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
5
2. Tại bản tự khai đề ngày 04/07/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Mai Văn Q trình bày: ông thừa nhận còn nợ của V3 đến ngày 21/05/2024 và các khoản lãi, phí phạt và các khoản khac phát sinh từ Hợp đồng tín dụng là 21.451.291.322 đồng (trong đó gốc quá hạn là 20.093.197.190 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.013.244.154 đồng, tiền lãi quá hạn là 344.869.978 đồng). Mặc dù thời hạn trả nợ đã quá hạn theo hợp đồng nhưng do điều kiện công ty đang gặp khó khăn về kinh tế nên để có tiền trả cho ngân hàng, ông đề nghị ngân hàng G thời hạn trả nợ cho công ty là 12 tháng kể từ ngày 04/07/2024 để Công ty có điều kiện trả nợ cho ngân hàng. Trường hợp công ty X1 không thực hiện như cam kết thì ngân hàng thực hiện quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tài sản thế chấp đã thỏa thuận.
3. Tại bản tự khai đề ngày 10/07/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vi Thị Mai L trình bày: ngày 26/04/2018, vợ chồng bà với V3 có thỏa thuận, thống nhất ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2018/HĐBĐ/NHCT424-CI587878+CH006076 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 22/07/2020) để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là Công ty X1, do chồng bà là ông Mai Văn Q, là người đại diện theo pháp luật. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng của vợ chồng tôi đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 31, diện tích 130,6m², là đất ở đô thị (90m²) và đất trồng cây lâu năm (40,6m²), địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 587878 do UBND huyện H ngày 09/01/2018 cấp mang tên Mai Văn Q và Vi Thị Mai L. Giá trị tài sản thế chấp là 324.000.000 đồng. Thời hạn bảo đảm khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã thực hiện xong và các bên hoàn tất các thủ tục xóa đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các bên đã tiến hành xong việc bàn giao hoàn trả các giấy tờ tài sản thế chấp cho nhau và ký kết biên bản bàn giao để hoàn tất cả thủ tục giải chấp, thanh lý hợp đồng thế chấp.
Công ty X1 đã vi phạm Hợp đồng tín dụng, để phát sinh nợ gốc và lãi quá hạn kể từ ngày 30/10/2023 nên V3 đã khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc Công ty X1 phải trả số tiền vay và lãi đồng thời yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng nếu công ty X1 không trả nợ. Bà đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp như vợ chồng bà đã cam kết trong hợp đồng thế chấp nếu Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng đã được Công ty X1 ký kết với V3 chi nhánh B1.
4. Tại bản tự khai đề ngày 08/07/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà ông Vũ Xuân K và bà Nguyễn Thị K1 trình bày: ngày 30/06/2017, vợ chồng ông với V4 chi nhánh B2 có thỏa thuận, thống nhất ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-KIEN KHANH để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là Công ty X1. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của vợ chồng ông bà đối với thửa đất số 81, tờ bản đồ số 41, diện tích 182,5m², là đất ở tại đô thị ở tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 594014 do UBND huyện H ngày 04/04/2014 cho ông bà. Giá trị tài sản thế chấp là 2.937.000 đồng. Thời hạn bảo đảm khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã thực hiện xong và các bên hoàn tất các thủ tục xóa đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các bên đã tiến hành xong việc bàn giao hoàn trả các giấy tờ tài sản thế chấp cho nhau và ký kết biên bản bàn giao để hoàn tất cả thủ tục giải chấp, thanh lý hợp đồng thế chấp.
6
V3 khởi kiện Công ty X1 vì đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã được ký kết với V5 chi nhánh B1
Do để phát sinh nợ gốc và lãi quá hạn kể từ ngày 30/10/2023 nên V3 đã khởi kiện yêu cầu Công ty X1 phải trả số tiền nợ còn lại và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết với V5 chi nhánh B1, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng nếu công ty X1 không trả nợ cho V3. Vợ chồng ông bà có liên quan đến tài sản đã thế chấp tại V3 để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty X1 nên ông bà đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp như đã cam kết trong hợp đồng thế chấp nếu Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo hợp đồng cho vay hạn mức mà Công ty X1 đã ký kết với V3 chi nhánh B1.
5. Tại bản tự khai đề ngày 27/06/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa liên quan vụ là ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T trình bày:
Năm 2017, vợ chồng ông bà với Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B2, tỉnh Thanh Hóa (gọi tắt là ngân hàng) có thỏa thuận, thống nhất ký kết hai Hợp đồng thế chấp bất động sản cho ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là Công ty X1, cụ thể:
Ngày 30/06/2017, ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-LAN TRUONG. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng của ông bà đối với thửa đất số Lô 42, tờ bản đồ số 215-509-6-a, diện tích 99m², là đất ở tại đô thị, địa chỉ tại Tiểu khu F, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 253894 do UBND huyện H ngày 08/05/2012 đứng tên ông bà. Giá trị tài sản thế chấp tại thời điểm ký kết hợp đồng là 722.000.000 đồng.
Ngày 22/09/2017, vợ chồng tôi với Ngân hàng ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424- LAN TRUONG CH051765. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của ông bà đối với thửa đất số 593, tờ bản đồ số 7, diện tích 206,9m², là đất ở nông thôn, địa chỉ tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa và tài sản gắn liền với đất là nhà ở 01 tầng, tường gạch mái bê tông cốt thép, xây dựng năm 2010, diện tích xây dựng 100m².
Thời hạn bảo đảm khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã thực hiện xong và các bên hoàn tất các thủ tục xóa đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các bên đã tiến hành xong việc bàn giao hoàn trả các giấy tờ tài sản thế chấp cho nhau và ký kết biên bản bàn giao để hoàn tất cả thủ tục giải chấp, thanh lý hợp đồng thế chấp. Do để phát sinh nợ gốc và lãi quá hạn kể từ ngày 30/10/2023 nên V3 đã khởi kiện yêu cầu Công ty X1 phải trả số tiền nợ còn lại và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết với V3 chi nhánh B1, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng nếu công ty X1 không trả nợ cho V3. Vợ chồng ông bà có liên quan đến tài sản đã thế chấp tại V3 để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty X1 nên ông bà đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp như đã cam kết trong hợp đồng thế chấp nếu Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo hợp đồng cho vay hạn mức mà Công ty X1 đã ký kết với V3 chi nhánh B1.
7
6. Tại bản tự khai đề ngày 27/06/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị S trình bày:
Ngày 30/06/2017, vợ chồng ông bà với V3 ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-LUC SOAN để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là Công ty X1. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của ông bà đối với thửa đất số 70, tờ bản đồ số 18, địa chỉ tại Khu phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa và tài sản gắn liền với đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông bà. Giá trị tài sản thế chấp tại thời điểm ký kết hợp đồng là 689.000.000 đồng. Thời hạn bảo đảm khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã thực hiện xong và các bên hoàn tất các thủ tục xóa đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các bên đã tiến hành xong việc bàn giao hoàn trả các giấy tờ tài sản thế chấp cho nhau và ký kết biên bản bàn giao để hoàn tất cả thủ tục giải chấp, thanh lý hợp đồng thế chấp.
Do để phát sinh nợ gốc và lãi quá hạn kể từ ngày 30/10/2023 nên V3 đã khởi kiện yêu cầu Công ty X1 phải trả số tiền nợ còn lại và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết với V3 chi nhánh B1, đồng thời yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho V3 nếu công ty X1 không trả nợ cho V3. Vợ chồng ông bà có liên quan đến tài sản đã thế chấp tại V3 để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty X1 nên ông bà đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp như đã cam kết trong hợp đồng thế chấp nếu Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo hợp đồng cho vay hạn mức mà Công ty X1 đã ký kết với V3 chi nhánh B1. Do Công ty X1 có nhiều tài sản nên bà đề nghị Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản của Công ty X1 trước để thu hồi nợ cho ngân hàng và trả lại sổ đỏ cho vợ chồng bà
7. Tại bản tự khai đề ngày 04/07/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Mai Thị V trình bày:
Ngày 11/07/2017, vợ chồng bà với V6 chi nhánh B1 có thỏa thuận, thống nhất ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-SACH VIET để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là Công ty X1. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của vợ chồng bà đối với thửa đất số 257 (5), tờ bản đồ số 03, diện tích 200m², là đất ở nông thôn tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 057418 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 06/10/2010. Giá trị tài sản thế chấp là 760.000.000 đồng. Thời hạn bảo đảm khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã thực hiện xong và các bên hoàn tất các thủ tục xóa đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các bên đã tiến hành xong việc bàn giao hoàn trả các giấy tờ tài sản thế chấp cho nhau và ký kết biên bản bàn giao để hoàn tất cả thủ tục giải chấp, thanh lý hợp đồng thế chấp.
8
Do để phát sinh nợ gốc và lãi quá hạn kể từ ngày 30/10/2023 nên V3 đã khởi kiện yêu cầu Công ty X1 phải trả số tiền nợ còn lại và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết với V3 chi nhánh B1, đồng thời yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng nếu công ty X1 không trả nợ cho V3. Vợ chồng ông bà có liên quan đến tài sản đã thế chấp tại V để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty X1 nên ông bà đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp như đã cam kết trong hợp đồng thế chấp nếu Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V3 theo hợp đồng cho vay hạn mức mà Công ty X1 đã ký kết với V3 chi nhánh B1.
8. Tại bản tự khai đề ngày 11/07/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Xuân V1 và Lê Thị H trình bày:
Do có sự thân quen và tin tưởng với gia đình ông Mai Văn Q nên năm 2017, vợ chồng ông bà với V3 chi nhánh B1 có thỏa thuận, thống nhất ký kết hai Hợp đồng thế chấp bất động sản cho ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là Công ty X1, cụ thể: ngày 29/01/2019, ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424/CI58 7152 và Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424/ BY781342. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng của vợ chồng đối với: thửa đất số 746, tờ bản đồ số 12 - BĐĐC 2014, diện tích 680,8m², là đất ở nông thôn, địa chỉ tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 587152 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 11/05/2018 đứng tên vợ chồng ông bà, giá trị tài sản thế chấp tại thời điểm ký kết hợp đồng là 680.000.000 đồng; thửa đất số 59, tờ bản đồ số 31 - BĐĐC 2014, diện tích 89,69m², là đất ở đô thị, địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 781342 do UBND huyện H ngày 16/06/2015 đứng tên vợ chồng tôi, giá trị tài sản thế chấp tại thời điểm ký kết hợp đồng là 1.351.000.000 đồng. Thời hạn bảo đảm khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã thực hiện xong và các bên hoàn tất các thủ tục xóa đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các bên đã tiến hành xong việc bàn giao hoàn trả các giấy tờ tài sản thế chấp cho nhau và ký kết biên bản bàn giao để hoàn tất cả thủ tục giải chấp, thanh lý hợp đồng thế chấp.
Do Công ty X1 đã vi phạm Hợp đồng tín dụng, để phát sinh nợ gốc và lãi quá hạn kể từ ngày 30/10/2023 nên V3 đã khởi kiện yêu cầu Công ty X1 phải trả số tiền nợ và lãi đồng thời yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ nếu Công ty X1 không trả nợ. Ông bà đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp như đã cam kết trong hợp đồng thế chấp nếu Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Do cũng là những người thân quen nên ông bà đã thế chấp những tài sản trên, thời gian ông bà thế chấp những tài sản trên đã quá lâu. Mặc dù có tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông Q không thực hiện trả nợ cho ngân hàng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông bà nên đề nghị Tòa án và ngân hàng giải quyết xử lý đối với khối tài sản của ông Q trước khi xử lý đối với tài sản của ông bà.
9
9. Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Xuân L2, ông Hoàng Văn S1 đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có mặt mà không có lý do nên không có bản khai của ông L2 và ông S1.
10. Tại phiên tòa:
10.1. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết giải: buộc Công ty X1 thực trả nợ toàn bộ số tiền còn nợ cho V3 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30/09/2024 tổng số tiền là .22.379.466.478, trong đó nợ gốc quá hạn là 20.093.197.190 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.665.672.381 đồng và nợ lãi quá hạn là 682.596.907 đồng; buộc Công ty X1 phải chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết khoản nợ cho V3; trường hợp Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V3, thì V3 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp tại V3 để thu hồi nợ.
10.2. Đại diện theo pháp luật của bị đơn trình bày: ông thừa nhận còn nợ của V3 số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30/09/2024 tổng số tiền là .22.379.466.478, trong đó nợ gốc quá hạn là 20.093.197.190 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.665.672.381 đồng và nợ lãi quá hạn là 682.596.907 đồng theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 2400002318/2023-HĐCVHM/NHCT424-MAI QUAN ngày 05/10/2023. Công ty X1 đang gặp khó khăn về tài chính nên đề nghị V3 giảm 50% tiền lãi và gia hạn thời hạn trả nợ gốc là 03 tháng kể từ ngày xét xử.
10.3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
10.3.1. Bà Mai Thị V: đề nghị ngân hàng và Hội đồng xét xử gia hạn thời hạn trả nợ cho Công ty X1 để xoay nguồn vốn trả cho ngân hàng và lấy các sổ đỏ cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
10.3.2. Ông Vũ Xuân K: tôi không đề nghị gia hạn thời hạn trả nợ cho Công ty X1. Đề nghị Tòa án xét xử và ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng thi hành bản án để lấy sổ đỏ cho vợ chồng tôi. Đề nghị ngân hàng yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tiến hành phát mại đối với tài sản của Công ty X1 trước khi tiến hành phát mại đối với tài sản của vợ chồng tôi.
10.4. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý, giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã được thực hiện các quyền của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147. Khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 217, Điều 218,
10
điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 278, 280, 292, 293, 298, 299, 317, 318, 319, 323, 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự. Điều 4 Luật Thương mại năm. Khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 6, Khoản 6 Điều 19, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty X1 phải trả cho V3 số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/09/2024 là 22.379.466.478 đồng phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số 2400002318/2023-HĐCVHM/NHCT424-MAI QUAN ngày 05/10/2023 được ký kết bởi Ngân hàng Thương mại Cổ phần C và Công ty X1, trong đó: số tiền nợ gốc là 20.031.197.190 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 1.665.672.381 đồng và tiền lãi quá hạn là 682.596.907 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty X1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, V3 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại những tài sản bảo đảm đã thế chấp tại V3.
Buộc Công ty X1 phải hoàn trả cho V3 số tiền 40.900.000đ (bốn mươi triệu chín trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Trả lại cho V3 phần tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ còn thừa là 4.100.000đ (bốn triệu, một trăm nghìn đồng).
Buộc Công ty X1 phải chịu 130.379.466đ (một trăm ba mươi triệu, ba trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho V3 số tiền 64.725.000đ (sáu mươi bốn triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn yêu cầu giải quyết buộc bị đơn là Công ty X1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng đã được thỏa thuận, ký kêt giữa các bên; bị đơn có địa chỉ tại Tiểu khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; các đương sự đều có đăng ký kinh doanh vì mục đích lợi nhuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
11
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Viết L1, bà Phạm Thị S, ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có yêu cầu phản tố, vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Hợp đồng cho vay hạn mức số 2400002318/2023-HĐCVHM/NHCT424-MAI QUAN ngày 05/10/2023 giữa V3 chi nhánh B1 và Công ty X1 thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện phù hợp với quy định tại các Điều 463, 464, 465, 466, 467 và 468 của Bộ luật Dân sự.
[3]. Các hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty X1 giữa V3 với Công ty X1, ông Mai Văn Q và bà Vi Thị Mai L, ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T, ông Lê Xuân L2 và bà Phạm Thị S, ông Vũ Xuân K và bà Nguyễn Thị K1, ông Hoàng Văn S1 và bà Mai Thị V, ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H là hoàn toàn tự nguyện và đã thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm, không có tranh chấp gì về hợp đồng thế chấp này. Do vậy, các hợp đồng thế chấp tài sản phù hợp với các quy định tại các Điều 292, 293, 298, 317, 318, 319, 320, 321, 322 và 323 của Bộ luật Dân sự.
[4]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.1]. Đối với yêu cầu trả tiền nợ gốc, tiền nợ lãi trong hạn, tiền nợ lãi quá hạn:
Hợp đồng cho vay hạn mức số 2400002318/2023-HĐCVHM/NHCT424-MAI QUAN ngày được ký kết ngày 25/10/2023 giữa V3 và Công ty X1 thể hiện thời hạn duy trì hạn mức với tổng mức dư nợ vay theo hợp đồng tại mọi thời điểm không vượt quá 21.000.000.000 đồng, thời hạn vay, lãi trong hạn và lãi quá hạn được ghi trong Giấy nhận nợ kèm theo Hợp đồng tín dụng, cụ thể:
| TT | Ngày giải ngân (nhận tiền) | Số tiền | Thời hạn vay | Hạn trả nợ | Lãi trong hạn 9%/năm | Lãi quá hạn 150%/năm |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 28/04/2023 | 5.000.000.000 | 06 tháng | 30/10/2023 | 256.424.658 | 132.404.383 |
| 2 | 31/08/2023 | 7.410.506.489 | 06 tháng | 29/02/2024 | 380.067.620 | 84.775.829 |
| 3 | 30/06/2023 | 650.000.000 | 06 tháng | 02/01/2024 | 33.336.986 | 12.123.959 |
| 4 | 09/06/2023 | 1.903.000.000 | 06 tháng | 11/12/2023 | 97.600.438 | 40.699.906 |
| 5 | 06/07/2023 | 2.339.690.701 | 06 tháng | 08/01/2024 | 119.997.287 | 41.900.748 |
| 6 | 05/10/2023 | 600.000.000 | 06 tháng | 05/04/2024 | 30.772.603 | 4.182.840 |
| 7 | 29/06/2023 | 1.000.000.000 | 06 tháng | 29/12/2023 | 51.287.671 | 19.146.664 |
| 8 | 06/10/2023 | 390.000.000 | 06 tháng | 08/04/2024 | 20.002.192 | 2.573.708 |
| 9 | 14/09/2023 | 800.000.000 | 06 tháng | 14/03/2024 | 23.734.699 | 7.061.941 |
| CỘNG | 20.093.197.190 | 1.013.224.154 | 344.869.978 | |||
Tại Điều 8 của Hợp đồng cho vay hạn mức quy định: bên vay không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ gốc đến hạn của bất kỳ khoản nợ nào, lãi
12
đến hạn tính trên bất kỳ khoản nợ nào đều bị chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn. Như vậy, lần vay ngày 28/04/2023 hạn trả nợ là ngày 30/10/2023, Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền nợ gốc là 5.000.000.000 đồng và lãi phát sinh là vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký kết nên toàn bộ khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 30/10/2023. Do đó, V3 khởi kiện yêu cầu Công ty X1 trả nợ toàn bộ số tiền đã vay và lãi phát sinh cho V3 là có cơ sở nên được chấp nhận.
Tính đến xét xử sơ thẩm 30/09/2024, tổng số tiền mà Công ty X1 còn nợ V3 là 22.379.466.478 đồng, trong đó: nợ gốc là 20.031.197.190 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.665.672.381 đồng, nợ lãi quá hạn là 682.596.907 đồng. Vì vậy, buộc Công ty X1 phải có trách nhiệm trả nợ số tiền này cho V3.
[4.2]. Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay hạn mức cho đến khi trả hết nợ: do Công ty X1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty X1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
[4.3]. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Những tài sản bảo đảm nêu trên đã thế chấp tại V3 để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty X1 đối với V3 và việc xử lý những tài sản bảo đảm này đều do bên thế chấp đồng ý, thỏa thuận, ký kết với bên nhận thế chấp là V3 được thể hiện trong các hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty X1 theo Hợp đồng tín dụng đã được V3 và Công ty X1 thỏa thuận ký kết. Nên nếu trường hợp Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V3 thì V3 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý, phát mại những tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[5]. Về chi phí tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các tài sản do Công ty X1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thế chấp tại V3. Đại diện theo ủy quyền của V3 đã nộp 45.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế là 40.900.000 đồng nên V2 được trả lại phần tiền còn thừa theo quy định tại khoản 2 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty X1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và phải có trách nhiệm hoàn trả cho V3 số tiền 40.900.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6]. Về án phí: do yêu cầu của V3 được chấp nhận toàn bộ, nên Công ty X1 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định. Trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí cho V3 đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
13
Căn cứ các Điều 299, 320, 322 và 323 của Bộ luật Dân sự; Điều 12 của Luật Ngân hàng N; các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 144, 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3, Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1 phải trả cho Ngân hàng C số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/09/2024 là 22.379.466.478 đồng phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số 2400002318/2023-HĐCVHM/NHCT424-MAI QUAN ngày 05/10/2023 được ký kết bởi Ngân hàng Thương mại Cổ phần C và Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1, trong đó: số tiền nợ gốc là 20.031.197.190 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 1.665.672.381 đồng và tiền lãi quá hạn là 682.596.907 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty X1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần C có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm những tài sản sau:
- - Thửa đất số Lô 42, tờ bản đồ số 215-509-6-a, tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 253894 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 08/05/2012 cho ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-LAN TRUONG ngày 30/06/2017).
- - Thửa đất số 70, tờ bản đồ số 18, địa chỉ tại Khu phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 282788 do Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 03/02/2015 cho ông Lê Xuân L2 và bà Phạm Thị S (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-LUC SOAN ngày 30/06/2017).
- - Thửa đất số 81, tờ bản đồ số 41, địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, Tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX594014 do UBND huyện H ngày 04/04/2014 cho ông Vũ Xuân K và bà Nguyễn Thị K1 (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-KIEN KHANH ngày 30/06/2017).
- - Thửa đất số 257(5), tờ bản đồ số 03, địa chỉ tại xã H, Huyện H, Tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC057418 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 06/10/2010 cho ông Hoàng Văn S1 và Bà Mai Thị V (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-SACH VIET ngày 11/07/2017).
- - Thửa đất số 593, tờ bản đồ số 7, địa chỉ tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 051765 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 06/06/2017 cho ông Lê Viết L1 và bà Nguyễn Thị T (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2017-HĐTC/424-LAN TRUONG CH051765 ngày 22/09/2017)
- - Thửa đất số 31, tờ bản đồ số 31, địa chỉ tại Tiểu khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 587878 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 09/01/2018 cho ông Mai Văn Q và bà Vi Thị Mai L (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2018/HĐBĐ/NHCT424-CI87878+CH006076 ngày 26/04/2018).
- - Thửa đất số 59, tờ bản đồ số 31-BĐĐC 2014, địa chỉ tại thị trấn H, Huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 781342 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 16/06/2015 cho ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424/BY 781342 ngày 29/01/2019)
- - Thửa đất số 746, tờ bản đồ số 12-BĐĐC 2014, địa chỉ tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 587152 do Ủy ban nhân dân huyện H ngày 11/05/2018 cho ông Vũ Xuân V1 và bà Lê Thị H (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424/CI587152 ngày 29/01/2019).
- - Xe ô tô, biển kiểm soát 36A-053.91; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 062386 do phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 02/03/2019 cho Công ty X1 (theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424-36A-053.91 ngày 11/03/2019)
- - Xe ô tô, biển kiểm soát 36A-230.43; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 062390 do phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 02/03/2019 cho Công ty X1 (theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 2400002318/2019/HĐBĐ/NHCT424-36A-230.43 ngày 11/03/2019).
- - Thửa đất số 460, tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo GCN số CN 012878 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 27/08/2018 cho Công ty X1 (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 2400002318/2022/HĐBĐ/NHCT424/CN012878 ngày 18/07/2022).
14
2. Chi phí tố tụng:
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C phần tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ còn thừa là 4.100.000đ (bốn triệu, một trăm nghìn đồng).
15
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C số tiền 40.900.000đ (bốn mươi triệu chín trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
3. Án phí: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1 phải chịu 130.379.466đ (một trăm ba mươi triệu, ba trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C số tiền 64.725.000đ (sáu mươi bốn triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006879 ngày 06/06/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
3. Quyền kháng cáo: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Đại diện theo pháp luật của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Văn Nam |
Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng cho vay hạn mức số 2400002318/2023-HĐCVHM/NHCT424-MAI QUAN ngày được ký kết ngày 25/10/2023 giữa V3 và Công ty X1 thể hiện thời hạn duy trì hạn mức với tổng mức dư nợ vay theo hợp đồng tại mọi thời điểm không vượt quá 21.000.000.000 đồng, thời hạn vay, lãi trong hạn và lãi quá hạn được ghi trong Giấy nhận nợ kèm theo Hợp đồng tín dụng, cụ thể: TT Ngày giải ngân (nhận tiền) Số tiền Thời hạn vay Hạn trả nợ Lãi trong hạn 9%/năm Lãi quá hạn 150%/năm 1 28/04/2023 5.000.000.000 06 tháng 30/10/2023 256.424.658 132.404.383 2 31/08/2023 7.410.506.489 06 tháng 29/02/2024 380.067.620 84.775.829 3 30/06/2023 650.000.000 06 tháng 02/01/2024 33.336.986 12.123.959 4 09/06/2023 1.903.000.000 06 tháng 11/12/2023 97.600.438 40.699.906 5 06/07/2023 2.339.690.701 06 tháng 08/01/2024 119.997.287 41.900.748 6 05/10/2023 600.000.000 06 tháng 05/04/2024 30.772.603 4.182.840 7 29/06/2023 1.000.000.000 06 tháng 29/12/2023 51.287.671 19.146.664 8 06/10/2023 390.000.000 06 tháng 08/04/2024 20.002.192 2.573.708 9 14/09/2023 800.000.000 06 tháng 14/03/2024 23.734.699 7.061.941 CỘNG 20.093.197.190 1.013.224.154 344.869.978 Tại Điều 8 của Hợp đồng cho vay hạn mức quy định: bên vay không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ gốc đến hạn của bất kỳ khoản nợ nào, lãi đến hạn tính trên bất kỳ khoản nợ nào đều bị chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn. Như vậy, lần vay ngày 28/04/2023 hạn trả nợ là ngày 30/10/2023, Công ty X1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền nợ gốc là 5.000.000.000 đồng và lãi phát sinh là vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký kết nên toàn bộ khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 30/10/2023. Do đó, V3 khởi kiện yêu cầu Công ty X1 trả nợ toàn bộ số tiền đã vay và lãi phát sinh cho V3 là có cơ sở nên được chấp nhận. Tính đến xét xử sơ thẩm 30/09/2024, tổng số tiền mà Công ty X1 còn nợ V3 là 22.379.466.478 đồng, trong đó: nợ gốc là 20.031.197.190 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.665.672.381 đồng, nợ lãi quá hạn là 682.596.907 đồng
