Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 04/2024/DS-ST

Ngày 21-8-2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Văn Khẹt.
  2. Ông Quàng Văn Mầng.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 6, ngày 25 tháng 7 và ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2023/TLST–DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, địa chỉ: Bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Cầm Văn T, địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La và ông Lò Văn Đ, địa chỉ: Bản C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 03/7/2024). Có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D, địa chỉ: Bản G, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    Anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

  4. Những người làm chứng:

    Ông Lê Văn C, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

    Ông Lâm Ngọc T2, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

    Bà Nguyễn Thị X, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

    Ông Tòng Văn H1, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Gia đình bà có thửa đất mua lại của bố mẹ chồng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 545958 theo quyết định số 00958/QSDĐ 41/QĐ-UB ngày 23/02/2000, tờ bản đồ S3+4-1; thửa 11, 11(1), 14; diện tích 2760, m², địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Mang tên Nguyễn Văn T3.

Thời điểm đó do đất nhà ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D chật đã mua lại của gia đình bà với giá 400.000, đồng. Do hai vợ chồng mâu thuẫn bà đã chuyển ra ở riêng ở bản B, xã M, huyện M từ năm 2000. Đến năm 2006 chồng bà ông Nguyễn Văn T3 chết, sau đó bà quay về ở. Năm 2014 bà có làm thủ tục nhận quyền thừa kế đất đứng tên bà Nguyễn Thị H. Năm 2023 gia đình bà có cải tạo mặt bằng lúc này phát hiện ra năm 2014 ông V bà D làm bìa đỏ đã lấn chiếm đất nhà bà là 2m phía tiếp giáp mặt đường, sâu vào phía trong. Sau bà thay đổi cho rằng lấn chiếm đất nhà bà là 4,1m phía tiếp giáp mặt đường và sâu vào trong đến phía sau là 2m. Bà Nguyễn Thị H mô tả diện tích đất nhượng lại cho ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D ở đằng sau nhà ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D dài 3m rộng 2,5m với giá 400.000, đồng, không phải phía trước mặt đường, nay chỗ đất này vẫn nằm trong bìa đỏ nhà bà Nguyễn Thị H cho nên mới thừa chiều sâu.

Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 trả lại diện tích đất 50,061m², phía tiếp giáp mặt đường 4,1m, chiều sâu dọc theo giáp đất hai nhà 16,84m, phía giáp nhà ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D 16m, phía sau là 2m.

Bà Nguyễn Thị H cung cấp chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 545958 theo quyết định số 00958/QSDĐ 41/QĐ-UB ngày 23/02/2000, tờ bản đồ S3+4-1; thửa 11, 11(1), 14; diện tích 2760, m², địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Mang tên Nguyễn Văn T3.

Hai người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Hai ông công nhận lời trình bày trên của nguyên đơn và đưa ra ý kiến:

Chứng cứ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 545958 theo quyết định số 00958/QSDĐ 41/QĐ-UB ngày 23/02/2000, tờ bản đồ S3+4-1; thửa 11, 11(1), 14; diện tích 2760, m², địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Mang tên Nguyễn Văn T3.

Hiện nay so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sê ri BT553399, diện tích 577,4m² đất. Trong đó đất ở 399m², đất trồng cây lâu năm 178,4m², thửa số 100, tờ bản đồ 68, Số vào sổ cấp GCN: CH01133, QĐ số 2815/QĐ-UBND ngày 20/10/1014, đứng tên Nguyễn Thị H thì phía mặt đường thiếu 5,5m.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 của ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 phía mặt đường thừa 4,49m. Từ việc so sánh này thì ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D đã lấn chiếm đất của bà Nguyễn Thị H.

Bị đơn ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D trình bày: Năm 1999 hai ông bà cư trú tại bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Do đất hẹp, năm 2001 có thỏa thuận với ông Nguyễn Văn T3 là hàng xóm nhượng lại cho một phần đất. Ông Nguyễn Văn T3 nhất trí, gia đình ông bà đã giao 400.000, đồng cho ông Nguyễn Văn T3 và được ông Nguyễn Văn T3 cắm giao đất cho, khi hai bên giao đất cắm mốc có mời ông Lâm Ngọc T2 là phó trưởng bản và tổ trưởng an ninh đến chứng kiến. Sau khi nhận đất năm 2001 gia đình ông bà có xây dựng luôn hệ thống chuồng lợn, tường xây chuồng lợn tiếp giáp dọc theo đất ông Nguyễn Văn T3 và sử dụng chăn nuôi. Khi xây dựng rất nhiều người trong bản biết. Đến nay (năm 2024) vẫn giữ nguyên hiện trạng. Bà Nguyễn Thị H là vợ ông Nguyễn Văn T3 biết rõ và công nhận, hai bên gia đình sống bình thường hơn 22 năm không xảy ra tranh chấp gì cả.

Năm 2014 được nhà nước cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi cấp đổi chính bà Nguyễn Thị H (ông Nguyễn Văn T3 đã chết) là người trực tiếp ký giáp ranh giới giữa hai gia đình. Đến năm 2016 gia đình ông bà nhượng lại cho anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1.

Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 trả lại diện tích đất 50,061m², phía tiếp giáp mặt đường 4,1m, chiều sâu dọc theo giáp đất hai nhà 16,84m, phía sau là 2m. Hai ông bà không nhất trí vì không lấn chiếm. Hai ông bà khẳng định diện tích này là nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T3 chồng bà Nguyễn Thị H từ năm 2001.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 trình bày:

Năm 2016 hai vợ chồng có nhận chuyển nhượng của ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D diện tích 264,8m² đất, thửa số 22, tờ bản đồ 68, địa chỉ bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, đã thực hiện đầy đủ thủ tục đổi chủ sử dụng đất. Sau 07 năm sử dụng không có tranh chấp gì với bà Nguyễn Thị H. Đến năm 2023 bà Nguyễn Thị H san ủi mặt bằng và sang bảo hai vợ chồng anh chị là khu chuồng lợn cũ là của gia đình anh chị là đất của bà Nguyễn Thị H.

Về việc bà Nguyễn Thị H tranh chấp đất hai anh chị không biết rõ nên đã gọi ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D về cùng giải quyết. Về hiện trạng giáp ranh giữa hai bên từ khi mua vẫn giữ nguyên ranh giới và các công trình xây dựng trước đó như chuồng lợn, tường xây vẫn giữ nguyên.

Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 trả lại diện tích đất 50,061m², phía tiếp giáp mặt đường 4,1m, chiều sâu dọc theo giáp đất hai nhà 16,84m, phía sau là 2m. Hai anh chị không nhất trí vì không lấn chiếm.

Các người làm chứng:

Ông Lâm Ngọc T2 trình bày: Vào thời điểm năm 2001 ông làm phó trưởng bản kiêm tổ trưởng an ninh bản Hua Bó, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Việc gia đình ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị H chuyển nhượng một phần đất cho gia đình ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D là có thật, với giá là 400.000, đồng. Khi giao đất hai bên có mời ông đến cắm đất. Ngay sau đó gia đình ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D có xây dựng khu chuồng lợn, ông có được tham gia. Quá trình xây dựng có mặt ông Nguyễn Văn T3. Công trình đó xây dựng ngay mặt đường xóm nên rất nhiều người biết. Hiện nay công trình vẫn giữ nguyên hiện trạng.

Ông Lê Văn C trình bày: Ông là dân sống ở bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Việc gia đình ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D có xây dựng khu chuồng lợn giáp đường đi năm 2001 là đúng, hiện nay vẫn thấy khu chuồng lợn cũ.

Bà Nguyễn Thị X trình bày: Bà sinh sống từ năm 1981 đến nay ở bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Bà là hàng xóm giáp ranh với hai nhà ông Nguyễn Văn T3 và ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D. Bà biết việc năm 2001 hai nhà ông Nguyễn Văn T3 và ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D mua bán đất với nhau, với giá là 400.000, đồng. Sau đó ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D có xây dựng khu chuồng lợn giáp đường đi năm 2001 là đúng, hiện nay vẫn thấy khu chuồng lợn cũ.

Ông Tòng Văn H1 trình bày: Ông sinh sống từ trước đến nay ở bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. ông là hàng xóm với hai nhà ông Nguyễn Văn T3 và ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D. Ông biết việc năm 2001 hai nhà ông Nguyễn Văn T3 và ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D mua bán đất với nhau. Sau đó ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D có xây dựng khu chuồng lợn giáp đường đi năm 2001 là đúng, hiện nay vẫn thấy khu chuồng lợn cũ.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ Điều 100, điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 170, khoản 3 Điều 188, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai 2013; Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, về yêu cầu ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 phải trả lại đất lấn chiếm có diện tích đất 50,061m², phía tiếp giáp mặt đường 4,1m, chiều sâu dọc theo giáp đất hai nhà 16,84m, phía giáp nhà anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 16m, phía sau là 2m.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H với ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, theo quy định của khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, huyện M, tỉnh Sơn La.

[2] Về căn cứ pháp lý:

Tranh chấp quyền sử dụng đất phát sinh từ việc bà Nguyễn Thị H khởi kiện ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 lấn chiến quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014. Do đó căn cứ pháp lý áp dụng để giải quyết là: Luật Đất đai năm 2013; Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H: Ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 lấn chiếm đất và phải trả lại cho gia đình bà diện tích đất 50,061m², phía tiếp giáp mặt đường 4,1m, chiều sâu dọc theo giáp đất hai nhà 16,84m, phía giáp nhà anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 16m, phía sau là 2m.

[3.1] Xét nguyên nhân, lý do bà Nguyễn Thị H cho rằng ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 lấn chiếm đất là vào năm 2023 gia đình bà cải tạo san ủi mặt bằng và so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 thì thấy thiếu phía mặt đường 2m. Sau này bà thay đổi là thiếu 4,1m. Và bà Nguyễn Thị H cho rằng diện tích đất nhượng lại cho ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D ở đằng sau nhà ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D dài 3m rộng 2,5m với giá 400.000, đồng, không phải phía trước mặt đường, nay chỗ đất này vẫn nằm trong bìa đỏ nhà bà Nguyễn Thị H.

Xét lời khai của bà Nguyễn Thị H nêu trên không phù hợp với thực tế vì:

Căn cứ vào kết quả xem xét tại chỗ xác định vị trí mà bà chỉ do ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D lấn chiếm đất là vào năm 2023, trên đất là công trình chuồng trại xây tiếp giáp nhà bà rất cũ, ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D xác định đã xây dựng trên diện tích đất nhận chuyển nhượng của gia đình bà Nguyễn Thị H từ năm 2001. Việc xây dựng này được nhiều người biết như ông Lâm Ngọc T2 là phó trưởng bản tham gia cắm mốc giao đất cùng ông Nguyễn Văn T3 chồng bà Nguyễn Thị H và là người cùng tham gia xây dựng. Những người hàng xóm như bà Nguyễn Thị X, ông Tòng Văn H1, ông Lê Văn C đều xác nhận việc xây chuồng trại từ năm 2001 và hiện nay vẫn giữ nguyên hiện trạng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 là người nhận chuyển nhượng đất của gia đình ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D từ năm 2016, xác định không sửa chữa, vẫn giữ nguyên hiện trạng như cũ và sử dụng đến nay. Như vậy không có căn cứ xác định việc ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D lấn chiếm đất của gia đình bà Nguyễn Thị H.

Xét lời của bà Nguyễn Thị H cho rằng diện tích đất nhượng lại cho ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D ở đằng sau nhà ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D dài 3m rộng 2,5m với giá 400.000, đồng, không phải phía trước mặt đường, nay chỗ đất này vẫn nằm trong bìa đỏ nhà bà Nguyễn Thị H. Ngoài lời khai ra bà không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác. Lời khai này của bà Nguyễn Thị H là vô lý vì năm 2001 chồng bà Nguyễn Thị H là ông Nguyễn Văn T3 chuyển nhượng đã giao đất cho gia đình ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D năm 2001 và bên nhận đất đã sử dụng xây dựng chuồng trại nuôi lợn từ đó đến nay. Hiện nay công trình đó vẫn còn nguyên hiện trạng. Do đó không có căn cứ chấp nhận lời khai nại này của bà Nguyễn Thị H.

[3.2] Xét bà Nguyễn Thị H đưa ra chứng cứ để làm căn cứ là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 545958 theo quyết định số 00958/QSDĐ 41/QĐ-UB ngày 23/02/2000, tờ bản đồ S3+4-1; thửa 11, 11(1), 14; diện tích 2760, m², địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Mang tên Nguyễn Văn T3.

Ngày 10/6/2014 bà Nguyễn Thị H có đề nghị cấp đổi, thừa kế quyền sử dụng đất. Tại biên bản xác định ranh giới giữa các gia đình liền kề, bà Nguyễn Thị H là người trực tiếp ký xác nhận. Bà Nguyễn Thị H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sê ri BT553399, diện tích 577,4m² đất, trong đó đất ở 399m², đất trồng cây lâu năm 178,4m², thửa số 100, tờ bản đồ 68, địa chỉ bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Số vào sổ cấp GCN: CH01133, QĐ số 2815/QĐ-UBND ngày 20/10/1014, đứng tên Nguyễn Thị H.

Ngày 28/3/2012 ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D có đề nghị cấp đổi quyền sử dụng đất. Tại biên bản xác định ranh giới giữa các gia đình liền kề, bà Nguyễn Thị H là người trực tiếp ký xác nhận. Ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sê ri BT553423, diện tích 264,8m² đất, thửa số 22, tờ bản đồ 68, đất ở 40m², đất trồng cây lâu năm 224,8m², địa chỉ bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Số vào sổ cấp GCN: CH01148, QĐ số 2816/QĐ-UBND ngày 20/10/1014, đứng tên ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D.

Căn cứ khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 thì hai Giấy chứng nhận được cấp năm 2014 của bà Nguyễn Thị H và ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D đã có hiệu lực kể từ ngày đăng ký 20/10/2014.

Như vậy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 545958 theo quyết định số 00958/QSDĐ 41/QĐ-UB ngày 23/02/2000, tờ bản đồ S3+4-1; thửa 11, 11(1), 14; diện tích 2760, m², địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Mang tên Nguyễn Văn T3 thuộc trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đã cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Luật đất đai 2013. Do đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên không có giá trị pháp lý.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị H cho rằng ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D múc, ủi chuyển hệ thống chuồng lợn lấn sang phía nhà bà. Tuy nhiên lời khai này không đúng với thực tế, đây là lời khai nại vì đến tại thời điểm xét xử anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 xác định hiện trạng giữ nguyên từ khi nhận chuyển nhượng năm 2016 và những người hàng xóm xác định hiện trạng giữ nguyên từ khi xây dựng năm 2001 đến nay.

[3.3] Xét việc nguyên đơn và hai người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng:

Chứng cứ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 545958 theo quyết định số 00958/QSDĐ 41/QĐ-UB ngày 23/02/2000, tờ bản đồ S3+4-1; thửa 11, 11(1), 14; diện tích 2760, m², địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Mang tên Nguyễn Văn T3. Có chiều mặt đường là 30m.

So với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sê ri BT553399, diện tích 577,4m² đất. Trong đó đất ở 399m², đất trồng cây lâu năm 178,4m², thửa số 100, tờ bản đồ 68, Số vào sổ cấp GCN: CH01133, QĐ số 2815/QĐ-UBND ngày 20/10/1014, đứng tên Nguyễn Thị H. Có chiều mặt đường là 24,49m. Phía mặt đường thiếu 5,51m.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 của ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 phía mặt đường thừa 4,49m. Từ việc so sánh này thì ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D đã lấn chiếm đất của bà Nguyễn Thị H.

Việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và hai người đại diện hợp pháp lấy số liệu của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 trừ đi số liệu của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 làm căn cứ xác định lấn chiếm đất là không đúng vì:

Thứ nhất: Năm 2000 diện tích đất của hai gia đình không thay đổi. Đến năm 2001 ông Nguyễn Văn T3 chuyển nhượng một phần đất cho ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D, sau khi phần diện tích đất ông Nguyễn Văn T3 giao cho ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D sử dụng, thì diện tích đất của ông Nguyễn Văn T3 sẽ bị bớt đi và diện tích đất của ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D sẽ được tăng lên. Phù hợp với việc Nhà nước cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 cho hai gia đình.

Thứ hai: Sau khi nhận chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng nhận đất đã xây dựng công trình chuồng trại từ năm 2001 và sử dụng đến nay là 23 năm, được Nhà nước cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014.

Hội đồng xét xử yêu cầu hai người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đưa ra căn cứ pháp lý (Pháp luật quy định): Đất đã chuyển nhượng cho người khác sử dụng sau 23 năm và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ không còn giá trị bị thiếu đất là lấn chiếm đất. Nhưng hai người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không đưa ra được điều luật nào mà pháp luật quy định như thế.

Thứ ba: Căn cứ vào kết quả xem xét tại chỗ xác định vị trí mà bà Nguyễn Thị H chỉ đất do ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D lấn chiếm đất. Trên đất là công trình chuồng trại xây tiếp giáp nhà bà Nguyễn Thị H, không có hiện tượng xê dịch. Hiện nay bà Nguyễn Thị H san ủi mặt bằng, đổ đất cao hơn tường chuồng lợn khoảng 1,5m. Bà Nguyễn Thị H cũng công nhận gia đình bà đã làm thay đổi hiện trạng đất nhà bà.

[3.4] Xét việc sử dụng đất của ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1:

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên. Có đủ căn cứ xác định ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 đang sử dụng đúng mục đích, đúng ranh giới đất, không lấn chiếm đất theo quy định của Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 không nhất trí trả diện tích đất 50,061m², phía tiếp giáp mặt đường 4,1m, chiều sâu dọc theo giáp đất hai nhà 16,84m, phía giáp nhà anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 16m, phía sau là 2m cho bà Nguyễn Thị H là hợp tình, hợp lý và đúng quy định của pháp luật.

Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên. Và căn cứ Điều 100, điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 170, khoản 3 Điều 188, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai 2013; Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, yêu cầu ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 phải trả lại đất lấn chiếm có diện tích đất 50,061m², phía tiếp giáp mặt đường 4,1m, chiều sâu dọc theo giáp đất hai nhà 16,84m, phía giáp nhà anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 16m, phía sau là 2m.

Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 100, điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 170, khoản 3 Điều 188, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai 2013; Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, về yêu cầu ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D và anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 phải trả lại đất lấn chiếm có diện tích đất 50,061m², phía tiếp giáp mặt đường 4,1m, chiều sâu dọc theo giáp đất hai nhà 16,84m, phía giáp nhà anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 16m, phía sau là 2m.

  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001224 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Báo cho bà Nguyễn Thị H, ông Bùi Quang V, bà Phạm Thị D, anh Tạ Trọng B, chị Đào Thu T1 biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 21/8/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Chi cục THADS huyện Mường la;
  • - Các đương sự (5);
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 04/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án dân sự số 04, ngày 21/8/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger