Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/DS-ST

Ngày 01 - 8 - 2024

V/v tranh chấp kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trịnh Thị Huệ và ông Bùi Đăng Triệu

- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Quỳnh Loan– Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 8 năm 2024tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: D TL 064/TLST –DS ngày 12 tháng 3 năm 2024về tranh chấp “Kiện đòi tài sảntheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 084/QĐXXST- DS ngày 24 tháng 6 năm 2024Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/QÐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Ngọc M chỉ: 77/2/4 H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh– Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: chị Dương Hương T; địa chỉ: tổ G, khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (theo Giấy uỷ quyền ngày 23/11/2023 của chị Nguyễn Ngọc M1) - Có mặt.

Bị đơn: anh Phan Huy H thường trú: tổ B, khu M, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh- Có mặt.

Người làm chứng:

  • - Bà Trịnh Thị H1; nơi thường trú: tổ B, khu M, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Chị Đặng Nhật H2; nơi thường trú: tổ A, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ B, khu M, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 01 năm 2024tại Tòa án; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện của nguyên đơn chị Dương Hương T trình bày: chị Nguyễn Ngọc M1 có quan hệ quen biết với anh Phan Huy H3. Khoảng đầu tháng 3/2022, anh H3 gọi điện hỏi vay tiền và nhờ chị M1 chuyển khoản vào tài khoản của H3 mỗi tháng 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) với nội dung chuyển khoản: “Công ty TNHH V chuyển lương”. Vì tin tưởng nên chị M1 đã chuyển khoản cho anh H3 tổng cộng 08 lần (từ tháng 3/2022 đến tháng 10/2022), tổng cộng 96.000.000 đồng (chín mươi sáu triệu đồng).

Đến ngày 31/7/2022, anh H3 gọi điện cho chị M1 nhờ vay ngân hàng hộ số tiền 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng) tại Ngân hàng TMCP Đ, sau đó chuyển tiền vào tài khoản của mẹ đẻ anh H3 là bà Trịnh Thị H1 tại Ngân hàng TMCP Đ. Chị M1 đã chuyển đủ số tiền 950.000.000 đồng vào tài khoản của bà H1 theo ủy nhiệm chi số C004/O 2012 ngày 26/8/2022 của Ngân hàng B. Anh H3 cam kết sẽ chuyển tiền gốc và tiền lãi cho chị M1 để trả hàng tháng cho Ngân hàng, chậm nhất là 02 năm sẽ gom tiền tất toán khoản vay. Tuy nhiên, anh H3 không trả tiền cho chị M1 theo đúng cam kết.

Chị M1 đã nhiều lần yêu cầu anh H3 hoàn trả các khoản tiền trên. Đến ngày 04/11/2022, anh H3 mới trả được cho chị M1 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), sau đó không còn khả năng trả nợ nữa.

Cho đến nay, chị M1 yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc anh H3 phải trả cho chị toàn bộ số tiền đã vay là 1.016.000.000 đồng (một tỷ, không trăm mười sáu triệu đồng), gồm có: tiền chuyển khoản cho anh H3 là 96.000.000 đồng, tiền vay ngân hàng để cho vay là 850.000.000 đồng và tiền lãi Ngân hàng của khoản vay trên là 70.000.000 đồng.

Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Phan Huy H4:

anh H3 và chị M1 có quan hệ tình cảm, chị M1 có biết số tài khoản của anh. Khoảng năm 2022, chị M1 có chuyển cho anh mỗi tháng 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) và nói: “Cứ tiêu đi, không phải suy nghĩ gì về số tiền này”. Anh H3 không vay mượn của chị M1 và không nhớ chị M1 đã chuyển khoản cho anh bao nhiêu lần.

Khoảng giữa năm 2022, anh H3 có nói với chị M1 về việc cần mua xe ô tô, cần khoản tiền 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng. Anh H3 đã cung cấp cho chị M1 số tài khoản của mẹ đẻ là bà Trịnh Thị H1 để chị M1 chuyển khoản. Chị M1 chuyển cho anh số tiền tiền 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng) và có nói với anh: “Khi nào có thì trả”. Số tiền trên anh H3 và chị M1 không thỏa thuận lãi, không thỏa thuận về thời hạn trả. Anh H3 đã nhận toàn bộ số tiền 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng) từ tài khoản của bà H1 và sử dụng để mua ô tô. Khoảng 1 tháng sau, chị M1 nói có việc cần tiền nên anh H3 đã bán xe và trả cho chị M1 số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Anh H3 đồng ý trả cho chị M1 số tiền vay chị M1 850.00.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng) và đề nghị được trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi hết nợ.

Đối với số tiền 96.000.000 đồng, anh H3 không đồng ý trả vì đây là số tiền chị M1 tự chuyển cho anh, anh không vay mượn gì. Anh cũng không biết tại sao chị M1 ghi trong nội dung chuyển khoản là “Công ty TNHH V chuyển lương”.

Đối với số tiền lãi ngân hàng của khoản vay là 70.000.000 đồng, anh H3 không đồng ý trả vì anh không biết đến khoản tiền này, khi vay số tiền 950.000.000 đồng, anh và chị M1 không thỏa thuận về lãi suất.

Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng bà Trịnh Thị H1 trình bày:

khoảng giữa năm 2022, bà H1 có nhận được số tiền 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng) chuyển vào tài khoản ngân hàng của bà. Bà không biết ai gửi và gửi vì mục đích gì. Sau đó con trai bà là Phan Huy H3 đã nói đó là tiền của bạn H3 gửi nhờ và đưa bà lên Ngân hàng để rút tiền. Toàn bộ số tiền 950.000.000 đồng bà đã đưa cho anh H3, anh H3 chi tiêu như thế nào bà không được biết. Bà không đồng ý cùng trả nợ với anh H3.

Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng chị Đặng Nhật H2 trình bày:

chị H2 kết hôn và chung sống với anh H3 từ đầu năm 2023. Chị H2 biết chị M1 từng có quan hệ tình cảm với anh H3 nhưng không biết chị M1 đã chuyển cho anh H3 bao nhiêu tiền, chuyển vì mục đích gì, không biết thỏa thuận của chị M1 và anh H3 về các khoản tiền này. Chị H2 không đồng ý cùng trả nợ với anh H3 vì chị H2 không sử dụng chung số tiền này.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng và đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đánh giá có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền nợ 850.000.000 đồng theo quy định tại Điều 466; Điều 469 Bộ luật dân sự; không chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn phải trả số tiền 96.000.000 đồng và số tiền lãi ngân hàng là 70.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào yêu cầu khởi kiện; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc M1 Phan Huy H3 quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa bà Trịnh Thị H1 và chị Đặng Nhật H2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, xét thấy những người này không có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vì vậy tại Bản án xác định họ là người làm chứng.

[2] Về nội dung vụ án:

xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 1.016.000.000 đồng thấy:

[2.1] Về yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn phải trả số tiền 850.000.000 đồng, HĐXX thấy: ngày 26/8/2022, chị M1 có cho anh H3 vay số tiền 950.000.000 đồng bằng cách chuyển khoản thông qua tài khoản ngân hàng của mẹ đẻ anh H3 là bà Trịnh Thị H1 là có căn cứ chứng minh. Việc vay tiền giữa chị M1, anh H3 được thỏa thuận bằng miệng nội dung này được anh H3, chị M1 thừa nhận nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 4/11/2022, anh H3 đã thực hiện được một phần nghĩa vụ trả nợ cho chị M1 số tiền 100.000.000 đồng( một trăm triệu đồng). Do các bên không có tài liệu, chứng cứ thể hiện thỏa thuận về thời hạn trả nợ và lãi của khoản vay, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý. Anh H3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, hai bên đã trực tiếp gặp nhau để thông báo việc đòi nợ vì vậy chị M1 yêu cầu anh H3 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc còn lại là 850.000.000 đồng là phù hợp với các Điều 280, 463, 466, 469 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Không chấp nhận quan điểm của Anh H3 về việc trả dần số tiền 850.000.000 đồng mỗi tháng 3.000.000 đồng.

[2.2] Về yêu cầu của Nguyên đơn đòi bị đơn số tiền 70.000.000 đồng: để có số tiền 950.000.000 đồng cho anh H3 vay, chị M1 đã vay số tiền trên của Ngân hàng B. Tuy nhiên, chị M1 không có chứng cứ chứng minh do anh H3 nhờ chị vay và cam kết sẽ chuyển tiền gốc và tiền lãi cho chị M1 để trả hàng tháng cho Ngân hàng, chậm nhất là 02 năm sẽ gom tiền tất toán khoản vay như chị M1 trình bày nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị M1 về việc buộc anh H3 trả số tiền lãi 70.000.000 đồng.

[2.3] Đối với khoản tiền 96.000.000 đồng. Anh H3 thừa nhận chị M1 đã chuyển khoản cho anh nhưng không thừa nhận đã vay số tiền trên, chị M1 cũng không có tài liệu, chứng cứ thể hiện thỏa thuận anh H3 vay tiền trên của chị vì vậy chị M1 yêu cầu anh H3 trả khoản tiền trên là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Từ phân tích trên, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị M1 yêu cầu buộc anh H3 phải trả cho chị M1 số tiền 850.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu anh H3 phải trả số tiền 96.000.000 đồng và trả khoản tiền lãi tại ngân hàng B là 70.000.000 đồng.

[3] Về án phí:

Anh Phan Huy H3 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Chị Nguyễn Ngọc M1 phải nộp án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468; khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự; điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1.Chấp nhận một phần

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Ngọc M1 kiện đòi tài sản.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi số tiền 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng) của chị Nguyễn Ngọc M1 anh Phan Huy H3 cho chị Nguyễn Ngọc M1 toàn bộ số tiền 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày chị Nguyễn Ngọc M1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, anh H3 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc M1 về việc buộc anh Phan Huy H3 phải trả số tiền lãi ngân hàng 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) và trả số tiền 96.000.000 đồng (chín mươi sáu triệu đồng).

3. Về án phí: anh Phan Huy H3 phải nộp 37.500.000 đồng (ba mươi bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Ngọc M1 8.300.000 đồng (tám triệu ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 21.240.000 đồng (bằng chữ: hai mươi mốt triệu, hai trăm bốn mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0002206 ngày 11/3/2024Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Trả lại cho chị Nguyễn Ngọc M1 tiền 12.940.000 đồng (mười hai triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo chị Nguyễn Ngọc M1 Phan Huy H3 kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp. Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS Tp. Cẩm Phả;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 04/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị M đòi tiền anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger