Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/KDTM-ST

Ngày: 31 tháng 7 năm 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng xây dựng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, ông Nguyễn Thanh Trang.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 14/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-KDTM ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV K2, địa chỉ: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  • - Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1983, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang, có mặt.
  • - Ông Trần Hùng Duy K1, sinh năm 1995, nơi cư trú: Khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH T1, địa chỉ: số A P, phường E, quận H, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: ông Trần Anh T – Chức vụ: Giám đốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc K trình bày:

Ngày 11/5/2011, Công ty TNHH MTV K2 (sau đây gọi tắt là Công ty K2) và Công ty TNHH T1 (sau đây gọi tắt là Công ty H phát) đã ký Hợp đồng thi công xây dựng số 12/2011/HĐKT-XD, nội dung Công ty K2 giao cho Công ty H phát thi công xây dựng công trình trường mầm non H1, thuộc dự án Phố T phường C B, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang, giá trị hợp đồng là 13.140.000.000 đồng, do Công ty T1 không đáp ứng đúng tiến độ và thời gian hoàn thành công trình theo thỏa thuận hợp đồng nên Công ty K2 đã chấm dứt hợp đồng.

Theo Bảng quyết toán công nợ ngày 20/01/2012, Công ty K2 đã thanh toán cho Công ty T1 số tiền 7.662.534.000 đồng nhưng trên thực tế khối lượng nghiệm thu chỉ có 7.073.784.058 đồng nên thanh toán dư số tiền 588.748.942 đồng. Ngoài ra, khi thi công xây dựng các hạng mục công trình không đạt yêu cầu thiết kế do vật liệu xây dựng không đạt chuẩn đã làm thiệt hại đến chất lượng công trình nên phải phá dỡ để làm lại, chi phí thiệt hại là 302.897.000 đồng. Do đó, Công ty K2 khởi kiện yêu cầu Công ty T1 trả lại tổng cộng 891.646.942 đồng và yêu cầu tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ 0.83%/tháng tính từ ngày 09/01/2013 (ngày khởi kiện) đến ngày xét xử.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trần Anh T trình bày:

Việc Công ty K2 đơn phương chấm dứt hợp đồng với Công ty T1 là không chính đáng, bởi trong quá trình thi công Công ty T1 thi công đúng tiến độ, đúng quy trình kỹ thuật như thiết kế ban đầu hai bên cam kết nhưng Công ty K2 không ngồi lại để xác định khối lượng thực tế đến thời điểm đình chỉ, khối lượng thực tế đã thi công lên đến 9 tỷ đồng nhưng Công ty K2 mới thanh toán số tiền 6.781.942.000 đồng.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập Công ty T1 để hòa giải nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

  • - Người đại diện hợp pháp của Công ty K2 giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 99.709.500 đồng, chỉ yêu cầu Công ty T1 trả số tiền 791.937.442 đồng và yêu cầu tính lãi chậm thanh toán 0.83%/tháng từ ngày 09/01/2013 đến ngày xét xử. Tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyết định số 01/QĐST-DS ngày 09/9/2013 của Tòa án Quận H - thành phố Hồ Chí Minh.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

  • + Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, về thời gian thụ lý vụ án chưa bảo đảo theo quy định tại các Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bởi lẽ ngày 19/4/2018 Tòa án Quận H - Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định chuyển vụ án số 11/2018/QĐ-CVA để giải quyết theo thẩm quyền và Quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định số 09/2018/QĐ-SCBSQĐ ngày 04/5/2018, nhưng đến năm 2023 Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc mới thụ lý vụ án theo Thông báo số 05/TB-TLVA ngày 21/4/2013.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của nguyên đơn thấy rằng 02 thửa đất số 369, 370 tờ bản đồ số 20, tọa lạc phường C, thị xã C, tỉnh An Giang đã được thế chấp tại Ngân hàng A để bảo đảm khoản vay của bị đơn. Đến ngày 29/5/2017 Tòa án nhân dân Quận 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử theo Bản án 27/2017/KDTM-ST) buộc bị đơn trả cho Ngân hàng A 3.653.443.208 đồng, tài sản thế chấp hiện nay đã được xử lý theo quy định pháp luật về thi hành án nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 năm 2015.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 891.646.942 đồng. Nay yêu cầu trả 791.937.442 đồng, rút lại yêu cầu đối với số tiền 99.709.500 đồng nên cần đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  • + Về nội dung:

Giữa nguyên đơn (Công ty K2) với bị đơn (Công ty T1) có ký kết Hợp đồng thi công xây dựng số 12/2011/HĐKT-XD ngày 11/5/2011. Theo thỏa thuận, bị đơn thi công xây dựng công trình Trường mầm non H1, thời gian hoàn thành 199 ngày, giá trị hợp đồng 13.140.000.000 đồng. Căn cứ nội dung tại văn bản số 38/CV.KTC ngày 23/8/2011 của Công ty cổ phần T2 thể hiện trong quá trình giám sát Công ty đã nhắc nhở đơn vị thi công đúng theo quy trình nhưng nhà thầu thi công ít khi thực hiện và văn bản số 713/CV.PTQĐ ngày 26/12/2011 của Trung tâm phát triển quỹ đất – UBND thị xã C xác định, công trình thi công

Trường Mầm non Hoa Sen trễ tiến độ và Trung tâm đã mời các đơn vị có liên quan như Chủ đầu tư, Tư vấn Giám sát và đơn vị thi công để giải quyết vấn đề, đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhưng ông Trần Anh T – Giám đốc Công ty T1 không tham dự. Từ đó cho thấy, quá trình thi công bị đơn vi phạm hợp đồng, nên ngày 19/4/2012 nguyên đơn ban hành Quyết định số 01/QĐ-KATC, chấm dứt hợp đồng thi công xây dựng số 12/2011/HĐKT-XD ngày 11/5/2011 đối với bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không thừa nhận trong thời gian thi công chậm tiến độ và không chấp hành đúng quy trình, kỹ thuật dẫn đến thiệt hại. Tuy nhiên, theo thẩm định của Công ty T2 tại bảng xác định giá trị khối lượng thi công thể hiện phần khối lượng công việc bị đơn đã thực hiện là 7.073.784.058 đồng. Theo Bảng quyết toán công nợ ngày 20/01/2012 và phiếu chi ngày 24/2/2012 thể hiện nguyên đơn đã trả cho bị đơn, tổng số tiền 7.562.824.500 đồng. Ngoài ra, quá trình xây dựng do bị đơn không tuân thủ quy trình kỹ thuật dẫn đến phải phá vở, đổ lại cột và xử lý sàn lầu 1, khoan phúc tra sàn lầu 1, thiệt hại với tổng số tiền 302.897.000 đồng.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 791.937.442 đồng và lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ 0.83%/tháng tính từ ngày 09/01/2013 (ngày khởi kiện) đến ngày xét xử là có căn cứ.

Đối với việc bị đơn cho rằng khối lượng thi công thực tế đến thời điểm đình chỉ thi công là 9 tỷ, nhưng ngoài lời khai bị đơn không cung cấp chứng cứ nên không có cơ sở xem xét.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ các Điều 138, 139, 140, 141, 144, 145, 146, 147 Luật Xây dựng các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty TNHH T1 trả cho Công ty TNHH MTV K2 số tiền 791.937.442 đồng và lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ 0.83%/tháng, tính từ ngày 09/01/2013 (ngày khởi kiện) đến ngày xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty K2 khởi kiện tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng với Công ty T1. Tòa án nhân dân Quận 8 – thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc giải quyết theo thẩm quyền. Xét thấy, các Công ty đều có đăng ký doanh và mục đích lợi nhuận, đồng thời theo hợp đồng các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án thị xã C (nay là thành phố C) giải quyết nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Công ty T1, có địa chỉ trụ sở chính tại số A P, phường E, quận H, thành phố Hồ Chí Minh, chưa đăng ký giải thể (theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Công văn số 6838/ĐKKD-T6 ngày 18/8/2023 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H). Vì vậy, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo địa chỉ nêu trên cho Công ty T1 nhưng Công ty T1 vẫn không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không tham gia phiên tòa nên đã tự từ bỏ quyền tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Công ty T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện: tại phiên tòa, Công ty K2 rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 99.709.500 đồng nên Tòa án chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 5, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[4] Về hợp đồng xây dựng:

Theo Hợp đồng thi công xây dựng số 12/2011/HĐKT-XD ngày 11/5/2011 được ký kết giữa các bên, thấy rằng Công ty K2 là chủ đầu tư, giao cho Công ty T1 thi công công trình trường mầm non H1, thuộc dự án Phố T phường C B, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang, thời gian thi công là 199 ngày từ ngày 29/5/2011 đến ngày 19/12/2011.

Quá trình thi công, theo Công văn số 713/CV.PTQĐ ngày 26/12/2011 của Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã C (nay là thành phố C) thể hiện Công ty T1 đã trễ hạn 106 ngày và đã 02 lần gởi thư mời để giải quyết tình trạng chậm tiến độ thi công nhưng ông Trần Anh T – Giám đốc Công ty T1 vẫn không đến dự. Bên cạnh đó, theo Công văn số 38/CV.KTC ngày 23/8/2011 và Biên bản nghiệm thu ngày 18/9/2012 kèm Bảng xác định giá trị khối lượng thi công do Công ty cổ phần T2 lập, thể hiện: khối lượng thi công do Công ty T1 thực hiện là 7.073.784.058 đồng và khối lượng thiệt hại là 302.897.000 đồng. Đồng thời, theo Bảng quyết toán công nợ ngày 20/01/2012, Công ty T1 xác nhận số tiền nhận thực tế là 7.236.115.000 đồng.

Từ những căn cứ trên, có cơ sở xác định Công ty T1 đã vi phạm hợp đồng thi công xây dựng và nhận tiền vượt quá khối lượng thi công đã thực hiện nên Công ty K3 khởi kiện yêu cầu Công ty T1 trả số tiền 791.937.442 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về yêu cầu tính lãi chậm thanh toán: Công ty T1 vi phạm hợp đồng nên Công ty K2 yêu cầu trả lãi trên số tiền chậm thanh toán với mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp quy định tại Điều 306 Luật thương mại 2005 và có lợi cho bị đơn nên xét chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: từ ngày 09/01/2013 đến ngày xét xử (31/7/2024) là 138 tháng 22 ngày x 791.937.442 đồng x 0,83%/tháng = 911.905.405 đồng.

Vì vậy, buộc Công ty T1 có trách nhiệm trả cho Công ty K2 số tiền 791.937.442 đồng + 911.905.405 đồng = 1.703.843.000 đồng (đã làm tròn).

[6] Về yêu cầu tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 8 – thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/QĐST- DS ngày 09/9/2013 về việc cấm thực hiện hành vi thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 370, 371, tờ bản đồ số 20, theo giấy chứng quyền sử dụng đất số BE 619327, số BE 619326, tọa lạc phường C, thành phố C. Tuy nhiên, ngày 14/3/2012 Công ty T1 đã thế chấp 02 thửa đất này để vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần Á, việc đăng ký thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, do không có khả năng trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện, được giải quyết bằng Bản án số 27/2017/KDTM-ST ngày 29/5/2017 của Tòa án nhân dân Quận 8 – thành phố Hồ Chí Minh (bản án đã có hiệu lực pháp luật), buộc Công ty T1 trả số nợ 3.653.443.208 đồng, Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Hiện nay, 02 thửa đất trên đã được xử lý theo quy định pháp luật thi hành án.

Vì vậy, căn cứ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn nên cần hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/QĐST- DS ngày 09/9/2013 của Tòa án nhân dân Quận 8 – thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 138 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[7] Về ý kiến trình bày của bị đơn Công ty T1:

Công ty T1 cho rằng đã thi công đúng tiến độ, đúng quy trình kỹ thuật và khối lượng thực tế đã thi công lên đến 9 tỷ đồng nhưng Công ty K2 mới thanh toán số tiền 6.781.942.000 đồng. Ngoài lời khai này, Công ty T1 không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh và như đã phân tích tại mục số [3] nên không có cơ sở xem xét đối với ý kiến của Công ty T1.

[8] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

  • - Công ty K2 được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty K2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.375.000 đồng.
  • - Bị đơn Công ty T1 có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 63.115.000 đồng (đã làm tròn).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 138, 140, 141, 145, 146 Luật xây dựng năm 2014; Điều Điều 306 Luật thương mại; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án

nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV K2 về yêu cầu Công ty TNHH T1 trả số tiền 99.709.500 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV K2.

Buộc Công ty TNHH T1 có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH MTV K2 số tiền 1.703.843.000 đồng (đã làm tròn), trong đó số tiền phải thanh toán là 791.937.442 đồng và tiền lãi là 911.905.405 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2023/QĐ-BPKCTT ngày 09/9/2013 của Tòa án nhân dân Quận 8 – thành phố Hồ Chí Minh về việc cấm thực hiện hành vi thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 370, 371, tờ bản đồ số 20, theo giấy chứng quyền sử dụng đất số BE 619327, số BE 619326, tọa lạc phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH MTV K2 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV K2 số tiền 19.375.000 (mười chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 01170 ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8 - thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty TNHH T1 phải chịu 63.115.000 (sáu mươi ba triệu một trăm mười lăm nghìn) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty TNHH MTV K2 có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của Công ty TNHH T1 là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCĐ (1);
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang (1);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Thi hành án DS Quận 8, HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC về tranh chấp hợp đồng xây dựng

  • Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty KA yêu cầu Công ty HP trả tiền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger