TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 04/2024/DS-ST Ngày: 20-7-2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Xuân Thuận.
- Bà Trần Thị Phúc Tuệ.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Quang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Tô Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-TCDS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-DS ngày 23/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị N, sinh năm 1959; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình;
- Bị đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1956; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Cao Thị Thanh L, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình;
+ Anh Cao Hữu N1, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
+ Chị Cao Thị Hoài P, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Ấp E, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
+ Anh Cao Trung D, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình;
+ Chị Cao Thị Thu L1, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Hữu N1, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 30/11/2023, bản tự khai ngày 28/02/2024 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Đinh Thị N và người đại diện theo ủy quyền anh Cao Hữu N1 trình bày: Năm 2008, gia đình bố mẹ anh (hộ ông Cao Văn T1, bà Đinh Thị N) được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 541958 đối với thửa đất số 257, tờ bản đồ số 24, diện tích 21.051 m²; hình thức sử dụng: sử dụng riêng: 21.051 m², sử dụng chung: 0 m²; mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất; thời hạn sử dụng đến tháng 12/2052; nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, đứng tên người sử dụng đất hộ ông Cao Văn T1 và bà Đinh Thị N, địa chỉ thửa đất: 5/2 thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình).
Đến năm 2023, gia đình anh phát hiện ông T đã lấn chiếm đất của bố mẹ anh để trồng keo, tràm trên diện tích đất khoảng 2.600 m² đất rừng sản xuất thuộc quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt của gia đình bố mẹ anh. Sau khi phát hiện ông T lấn chiếm, trồng cây keo trên đất của mình, gia đình anh đã gặp trực tiếp ông Phan Văn T để trình bày sự việc, can ngăn việc lấn chiếm khi chưa được sự đồng ý của chủ sử dụng đất nhưng ông T không đồng ý. Gia đình anh đã yêu cầu UBND xã H tiến hành hòa giải nhưng ông T vẫn không chịu trả lại diện tích đất lấn chiếm nên việc hòa giải không thành. Vì vậy, mẹ anh là bà N làm đơn khởi kiện gửi Tòa án yêu cầu ông T trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm là 2.600m². Ngày 18/4/2024, sau khi có kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản, anh N1 có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, theo đó anh yêu cầu ông T phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 1.065,84 m² và phải di dời số cây Keo trên diện tích đất lấn chiếm.
* Bị đơn ông Phan Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi, niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có văn bản nêu rõ lý do, không có văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Tuy nhiên, trong giai đoạn hòa giải theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và tại phiên tòa ông T có mặt, trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà N như sau: Ông không lấn chiếm đất của bà N, ngược lại bà N mới là người lấn chiếm đất của ông nên ông không đồng ý trả lại phần đất mà ông đang sử dụng trồng cây Keo.
Ngày 17/4/2024, Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với thửa đất số 257, tờ bản đồ 24, diện tích 21.051m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 541958 đứng tên người sử dụng đất hộ Cao Văn T1, bà Đinh Thị N, kết quả như sau:
* Kết quả thẩm định: Thửa đất số 257, tờ bản đồ 24, diện tích 21.051m² có chiều dài các cạnh như sau:
- Phía Bắc giáp thửa đất số 03, tờ bản đồ số 17 có chiều dài: Điểm 1-3 = 49,33 m.
- Phía Nam giáp đất rừng của tỉnh Hà Tĩnh có chiều dài: Điểm 4-5 = 34,85 m.
- Phía Đông giáp thửa đất số 261, tờ bản đồ số 24 có chiều dài: Điểm 3- 4 = 586,433 m.
- Phía Tây giáp thửa đất số 252, tờ bản đồ số 24 có chiều dài: Điểm 1-5 = 575,53 m.
* Diện tích đất tranh chấp của ông Phan Văn T sử dụng trên đất của hộ ông Cao Văn T1, bà Đinh Thị N có diện tích là 1.065,84 m². Trong đó:
- Phần diện tích thứ nhất (S1) có chiều dài các cạnh là:
- + Cạnh A1- A2 có chiều dài 6,47 m.
- + Cạnh A2 – A3 có chiều dài 230,81m.
- + Cạnh A3- A1 có chiều dài 232,6m.
Tổng diện tích phần thứ nhất (S1) là 712,65 m².
- Phần diện tích thứ hai (S2) có chiều dài các cạnh là:
- + Cạnh A4- A5 có chiều dài 181,19m.
- + Cạnh A5 – A6 có chiều dài 5,75m.
- + Cạnh A6 – A4 có chiều dài 176.71 m.
Tổng diện tích phần thứ hai (S2) là 353,19 m².
* Tài sản trên đất:
- Cây keo có Φ > 2cm ≤ 5cm, mật độ 3.906 cây/ha do ông T trồng.
- Ngoài ra trên đất không có tài sản gì khác.
* Kết quả định giá:
- Giá trị cây keo trên đất:
+ Cây trong định mức 2000 cây/ha có giá: 1.065,84 m²/10.000 x 26.712.000 đồng = 2.847.071 đồng.
+ Số cây vượt định mức 2000 cây/ha có giá: 0,1906 x 1.065,84 = 203 cây x 26.712.000 đồng/2000 x 40% = 1.084.507 đồng.
Tổng giá trị cây keo trên diện tích đất tranh chấp: 2.847.071 đồng + 1.084.507 đồng = 3.931.578 đồng.
- Giá trị diện tích đất tranh chấp 1.065,84m² có giá 6.000đồng/m²: 1.065,84m² x 6.000 đồng = 6.395.040 đồng.
Sau khi thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, nguyên đơn nhất trí với kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản, bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Tòa án đã ra thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên hòa giải, nguyên đơn có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện với nội dung yêu cầu ông T phải trả lại diện tích đất là 1.065,84m² (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ) và di dời số cây trồng trên diện tích đất đã lấn chiếm, bị đơn vắng mặt không lý do nên không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn, ông T trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không tuân thủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng pháp luật quy định.
- Về nội dung tranh chấp: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu các đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập, xét thấy thửa đất số 257, tờ bản đồ số 24, diện tích 21.051 m², địa chỉ thửa đất: 5/2 thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình) đứng tên người sử dụng đất hộ ông Cao văn T2 và bà Đinh Thị N (sau khi cấp đổi) có nguồn gốc được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, mục đích sử dụng là đất rừng sản suất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 541958 đã bị ông T lấn chiếm với diện tích 1.065,84m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản). Đối với tài sản trên đất bao gồm toàn bộ cây Keo có trị giá 3.931.578 đồng do ông T trồng
trên diện tích đất lấn chiếm nên xác định đây là tài sản của ông T, số cây Keo này có Φ > 2cm ≤ 5cm nên việc di dời cây theo yêu cầu của nguyên đơn sẽ làm hư hỏng, giảm giá trị của cây. Từ các lý do và phân tích trên, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 131, 203 của Luật Đất đai; các Điều 189, 194, 207, 213, 218, 221 của Bộ luật Dân sự, xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông T phải trả lại quyền sử dụng đất đối với diện tích đất lấn chiếm là 1.065,84m² tại thửa đất số 257, tờ bản đồ số 24, diện tích 21.051 m², địa chỉ: 5 thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình). Về tài sản trên đất, giao cho bà N được quyền sở hữu toàn bộ số cây Keo có trên diện tích đất lấn chiếm 1.065,84 m² nhưng bà N phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị số cây K cho ông T. Về án phí, chi phí tố tụng đề nghị xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà N khởi kiện yêu cầu ông T trả lại quyền sử dụng đất với diện tích 1.065,84 m² nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối tượng tranh chấp 1.065,84 m² đất là bất động sản, tọa lạc tại: 5 thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình) nên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Thửa đất số 257, tờ bản đồ số 24, diện tích 21.051 m², tọa lạc tại: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình đứng tên người sử dụng đất hộ ông Cao Văn T1, bà Đinh Thị N (sau khi cấp đổi) có nguồn gốc được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, mục đích sử dụng là đất rừng sản suất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 541958. Do đó, quyền sử dụng đất của bà N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là hợp pháp, làm căn cứ pháp lý để giải quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên.
Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, tài liệu, chứng cứ kèm theo và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng, phần diện tích đất các bên tranh chấp nằm trong thửa đất số 257 tờ bản đồ số 24, diện tích 21.051 m². Đây là đất của ông T1, bà N được Nhà nước công nhận quyền sử dụng nhưng ông T trong quá trình canh tác đã trồng cây Keo lấn chiếm đất khi chưa được sự đồng ý của chủ sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị N về việc buộc ông T phải trả lại diện tích 1.065,84 m² đất lấn chiếm thuộc thửa đất số 257 tờ bản đồ số 24, diện tích 21.051m², tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình.
[2.2]. Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản ngày 17/4/2024, xác định số cây Keo trên diện tích đất tranh chấp do ông T trồng nên đây là tài
sản của ông T. Việc nguyên đơn yêu cầu ông T có nghĩa vụ di dời số cây Keo trên ra khỏi diện tích đất tranh chấp sẽ làm hư hỏng, mất hoặc giảm giá trị sử dụng của cây. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao toàn bộ số cây Keo trên diện tích 1.065,84 m² đất cho bà N được quyền sở hữu và bà N có nghĩa vụ phải thanh toán giá trị số cây K cho ông T là phù hợp. Cụ thể về số lượng cây và giá trị cây như sau:
+ Cây trong định mức 2000 cây/ha có giá: 1.065,84 m²/10.000 x 26.712.000 đồng = 2.847.071 đồng.
+ Số cây vượt định mức 2000 cây/ha có giá: 0,1906 x 1.065,84 = 203 cây x 26.712.000 đồng/2000 x 40% = 1.084.507 đồng.
Tổng giá trị cây keo trên diện tích đất tranh chấp: 2.847.071 đồng + 1.084.507 đồng = 3.931.578 đồng.
[2.3]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn, bà N do anh N1 đại diện theo ủy quyền đã tạm nộp 15.000.000 đồng, Hội đồng xem xét, thẩm định và định giá tài sản đã chi hết 8.500.000 đồng, còn lại 6.500.000 đồng đã trả lại cho bà N do anh Cao Hữu N1 đại diện theo ủy quyền nhận. Hội đồng xét xử thấy, yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận, các bên không có thỏa thuận khác nên bị đơn ông T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Đinh Thị N số tiền 8.500.000 đồng) là phù hợp với quy định tại các Điều 157, 158, 165 và Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn bà N được chấp nhận nên bị đơn ông T phải chịu toàn bộ khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Bà N2 có nghĩa vụ thanh toán cho ông T số tiền 3.931.578 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 164, 166, 168 và Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12, Điều 166, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị N. Buộc bị đơn ông Phan Văn T phải trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 1.065,84 m² (gồm 02 phần diện tích: Phần diện tích thứ nhất (S1) = 712,65 m² và phần diện tích thứ hai (S2) = 353,19 m², thuộc một phần thửa đất số 257, tờ bản đồ số 24, diện tích 21.051m², tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình cho nguyên đơn bà Đinh Thị N (Có sơ đồ kèm theo, không tách rời bản án).
2. Buộc bà Đinh Thị N phải thanh toán cho ông Phan Văn T giá trị cây cây Keo với số tiền 3.931.578 đồng. Bà Đinh Thị N được được quyền sở hữu toàn bộ số cây Keo có trên diện tích đất 1.065,84 m².
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Phan Văn T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 8.500.000 đồng. Do bà Đinh Thị N được anh Cao Hữu N1 đại diện theo ủy quyền nộp số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 15.000.000 đồng, đã chi hết 8.500.000 đồng, nên ông Phan Văn T có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Đinh Thị N số tiền 8.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí:
- Ông Phan Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Đinh Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng do anh Cao Hữu N1 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000018 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. (Bà Đinh Thị N đã nộp đủ án phí).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do ông Cao Hữu N1 đại diện theo ủy quyền và bị đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/7/2024, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 20/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 04/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N
