TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 04/2024/DS-ST Ngày 20/5/2024 V/v: T/c hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Kim Phượng
ông Phạm Ngọc Lợi
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Quang Minh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình : Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST- DS ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Công ty T; địa chỉ: lầu H Tòa nhà G, số B P, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật : ông Nguyễn Hữu N, Tổng giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền : ông Nguyễn Đình Đ, Phó tổng giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền lại : ông Đào Văn L, sinh năm 1992, chuyên viên pháp lý tố tụng; địa chỉ : số E K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội ( theo văn bản uỷ quyền số 240508-3-CCO ngày 08/5/2024)
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 01/3/2003; Nơi cư trú : số B, đường T, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ : số nhà B, Tổ F, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
(Tại phiên tòa có mặt ông L, chị H)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền lại, ông Đào Văn L, trình bày:
Ngày 13/9/2022, chị Nguyễn Thị Thu H đã ký đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng kiêm thoả thuận dịch vụ điện tử số 2W025069875 với HD Sai Son. Theo hợp đồng, bà H đã vay số tiền 67.400.000 đồng để mua xe máy nhãn hiệu Honda SH 125, biển kiểm soát 35D1-003.08, số khung RLHJF9504NY1619928, số máy JF95E0175945. Theo đó, vào ngày 12 hàng tháng bà H phải thanh toán cho H1 số tiền 4.026.750 đồng liên tục trong 24 kỳ trả góp bắt đầu từ ngày 12/10/2022 đến ngày 12/9/2024.
Tính đến ngày 11/9/2023( ngày làm đơn khởi kiện), chị H đã chậm thanh toán cho H1 04 kỳ trả góp tương ứng với 69.399.498 đồng, bắt đầu từ kỳ thứ 8. Kể từ thời điểm xảy ra sự kiện vi phạm nghĩa vụ thanh toán nêu trên, HD S đã nhiều lần liên lạc yêu cầu chị H thực hiện nghĩa vụ thanh toán, nhưng không nhận được sự hợp tác của chị H. Nay HD SaiSon đề nghị Toà án buộc chị Nguyễn Thị Thu H : Hoàn trả cho HD SaiSon toàn bộ số tiền gốc chưa thanh toán là 51.386.732 đồng, tiền lãi chưa thanh toán theo hợp đồng là 11.885.065 đồng, tiền lãi quá hạn do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 1.353.540đồng, thanh toán tiền phí bảo hiểm là 4.774.161 đồng. Trong bản tự khai, công ty T không yêu cầu chị H trả tiền phí bảo hiểm. Do vậy, tổng số tiền chị H phải thanh toán cho HD SaiSon là 67.061.709 đồng. H1 không yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thanh toán khoản nợ. Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền lại của công ty T thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị chị Nguyễn Thị Thu H thanh toán số tiền 66.212.396 đồng tính đến ngày xét xử 20/5/2024, trong đó tiền gốc là: 51.386.732 đồng, tiền lãi trong hạn là 11.035.752 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.789.912 đồng.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu H trong bản tự khai và tại phiên toà thể hiện: Ngày 13/9/2022, chị có ký 01 đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng, kiêm thoả thuận dịch vụ điện tử với công ty T. Theo hợp đồng, chị đã vay của công ty số tiền 67.400.000đồng để mua xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i biển kiểm soát 35D1-003.08. Theo đó, vào ngày 12 hàng tháng chị phải thanh toán cho HD SaiSon số tiền 4.026.700 đồng bao gồm cả gốc và lãi và liên tục trong 24 kỳ trả góp, chị đã thanh toán được số tiền 28.915.374 đồng bao gồm cả tiền gốc, lãi và tiền phí cho công ty T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình phát biểu quan điểm:
Về tố tụng : Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện quy định về ra
thông báo việc thụ lý vụ án, đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử, xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng, việc xác minh thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, trình tự tố tụng tại phiên toà theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung : Áp dụng Điều 463, 465, 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 BLTTDS năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Công ty T số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20/5/2024 là: 66.212.396 đồng, trong đó nợ gốc là 51.386.732 đồng, nợ lãi trong hạn là 11.035.752 đồng và lãi quá hạn là 3.789.912 đồng; theo đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng kiêm thoả thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W025069875 ngày 13/9/2022 giữa Công ty T và chị Nguyễn Thị Thu H.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Trả lại cho công ty T SaiSon số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: ngày 13/9/2022, chị Nguyễn Thị Thu H có ký đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng kiêm thoả thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W025069875 để vay số tiền 67.400.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất vay thực tế hàng tháng là 2,42% tương đương 29%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%. Phương thức trả nợ là trả góp hàng tháng số tiền 4.026.750 đồng, thời điểm trả nợ bắt đầu từ ngày 12/10/2022. Chị H đã trả được 7 kỳ trả góp, sau đó thì không trả nữa nên phát sinh tranh chấp. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu H có địa chỉ tại phường N thành phố N tỉnh Ninh Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình.
[2] Xét hợp đồng tín dụng : chị Nguyễn Thị Thu H đã ký đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng kiêm thoả thuận sử dụng dịch vụ điện tử với công ty T để vay số tiền 67.400.000 đồng để mua xe máy hiệu SH125i, chị H cũng thừa nhận việc có vay tiền của công ty T, quá trình vay chị H đã trả được số tiền 28.915.374 đồng trong đó chị đã trả được 16.013.268 đồng tiền gốc, tiền lãi trong hạn là 10.124.151 đồng, tiền lãi quá hạn là 812.124 đồng, phí bảo hiểm là 1.965.831 đồng. Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình đã tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tuy nhiên phía công ty T không chấp nhận phương án trả nợ của bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu H. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Xét thấy: Đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng kiêm thoả thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W025069875 ngày 13/9/2022 có hình thức hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự, các điều khoản và điều kiện của hợp đồng. Các bên tham gia ký hợp đồng đều tự nguyện và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự không bị ai ép buộc, nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Dù mức lãi của hợp đồng cao hơn mức quy định của bộ luật dân sự năm 2015, tuy nhiên khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định : “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Mặt khác, điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán, Toà án nhân dân tối cao quy định: “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Toà án áp dụng quy định của Luật các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất”. Như vậy, mức lãi suất mà công ty T và chị Nguyễn Thị Thu H đã ký kết trong hợp đồng được công nhận là hợp pháp. Nên chấp nhận khoản tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn như yêu cầu của nguyên đơn tại phiên toà.
Quá trình thực hiện hợp đồng: sau khi số tiền vay được giải ngân, chị H đã thực hiện được một phần nghĩa vụ trả nợ ( tính đến ngày 04/12/2023) đối với số tiền 28.915.374 đồng, trong đó trả nợ gốc là 16.013.268 đồng, trả nợ lãi trong hạn là 10.124.151 đồng, trả nợ lãi quá hạn là 812.124 đồng và 1.965.831 đồng phí bảo hiểm. Như vậy, chị H đã ký và thực hiện việc trả nợ tiền vay theo hợp đống tín dụng đã ký. Sau đó thì chị H không trả nữa, như vậy, chị Nguyễn Thị Thu H đã vi phạm hợp đồng tín dụng, không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty T xác định: tính đến ngày 20/5/2024, chị Nguyễn Thị Thu H còn nợ công ty số tiền là 66.212.396 đồng, trong đó nợ gốc là 51.386.732 đồng, nợ lãi trong hạn là 11.035.752 đồng và lãi quá hạn là 3.789.912 đồng. Việc cho vay, cách tính lãi của công ty là phù hợp với quy định của pháp luật và hợp đồng mà các bên đã ký kết. Như vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Công ty T số tiền là 66.212.396 đồng và lãi suất phát sinh cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
[4] Về án phí : Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39, điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 91, điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán, Toà án nhân dân tối cao. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Về nghĩa vụ trả nợ : buộc chị Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Công ty T số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20/5/2024 là: 66.212.396 đồng, trong đó nợ gốc là 51.386.732 đồng, nợ lãi trong hạn là 11.035.752 đồng và lãi quá hạn là 3.789.912 đồng; theo đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng kiêm thoả thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W025069875 ngày 13/9/2022 giữa Công ty T và chị Nguyễn Thị Thu H.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về án phí : chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 5%x 66.212.396 đồng= 3.310.619 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty T số tiền tạm ứng chi phí đã nộp là 1.700.000 đồng ( một triệu bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0000137 ngày 20/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Phương |
Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về t/c hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 04/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: T/c hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H vay tiền bằng việc thế chấp xe và trả bằng hình thức trả góp theo ký, chị H đã trả được 4 kỳ thì không tiếp tục trả nữa. Cty khởi kiện, TA chấp nhận yêu cầu
