Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM BÔI

TỈNH HOÀ BÌNH

Số:04/2024/DS-ST

Ngày 17/07/2024

Về việc : Tranh chấp HĐ tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Bùi Thị Mai Linh

Các hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Hưng và bà Bùi Thị Quỳnh

Thư ký Toà án ghi biên bản : Bà Bùi Hồng Duyên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tham gia phiên tòa : Bà Bùi Thanh Lương – Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ ngày 10 đến ngày 17 tháng 07 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 17/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 07 năm 2023 về việc : Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXX-DS ngày 12 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự :

- Nguyên đơn : Ngân hàng TMCP B

Địa chỉ : Tầng A Tòa nhà T, số B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội

- Người đại diện theo pháp luật : Ông Nguyễn Đức T – Chủ tịch HĐQT

- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng : Ông Phạm Tiến L – chuyên viên xử lý nợ. Có mặt

Địa chỉ : Số F, đường C, phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình.

- Đồng Bị đơn :

  • + Anh Bùi Văn P, Sn 1981. Vắng mặt không lý do
  • + Chị Bùi Thị D, Sn 1985. Vắng mặt không lý do
  • Cùng ĐKHKTT : khu N, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :

  • + Ông Bùi Văn P1, Sn 1954. Vắng mặt không lý do
  • + Bà Bùi Thị Ữ, Sn 1956. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
  • + Chị Bùi Phương Thanh T1, Sn 2007.
  • + Chị Bùi Thị Q, Sn 1979 – ( Đồng thời là người đại diện theo pháp luật - mẹ đẻ - của chị Bùi Phương Thanh T1 ) Vắng mặt không lý do
  • + Anh Bùi Văn P2, Sn 1986. Vắng mặt không lý do
  • + Anh Bùi Văn P3, Sn 1988. Vắng mặt không lý do
  • Cùng ĐKHKTT : khu N, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

1

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay phía Nguyên đơn trình bày :

Vợ chồng ông P và bà D có vay vốn của Ngân hàng TMCP B ( Gọi tắt là Ngân hàng B ), phòng giao dịch huyện K theo Hợp đồng tín dụng số HDTD2022020200 ngày 23/6/2020 cụ thể :

Số tiền vay 550.000.000₫ ( năm trăm năm mươi triệu đồng ). Thời hạn vay tư ngày 23/6/2020 đến ngày 23/6/2030.

Mục đích vay : Mua sắm tài sản tại thửa đất số 23, tờ bản đồ số 01 ở khu N, thị trấn B, K - Hòa Bình.

Lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân = 10,7%, điều chỉnh kỳ hạn 03 tháng/lần theo lãi suất huy động tiết kiệm thường kỳ 13 tháng, lãi suất cuối kỳ của Ngân hàng tại thời điểm điều chính lãi suất + Biên độ tối thiểu 5,45%/năm.

Lãi quá hạn = 150% lãi trong hạn. Kỳ hạn trả nợ gốc và lãi : Định kỳ trả nợ vào ngày 30 hàng tháng.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là QSD thửa đất số 23, tờ bản đồ số 01 ở khu N, thị trấn B, K, tỉnh Hòa Bình và các tài sản gắn liền trên đất. Giấy CNQSD đất số R 591652 đứng tên hộ ông Bùi Văn P1 do UBND huyện K, tỉnh Hòa Bình cấp ngày 15/5/2000. Chi tiết theo HĐ thế chấp QSD đất số 05/2019/HDTC-PGDKimBoi ngày 05/1/2019 và Phụ lục HĐ thế chấp số PL01-05/2019/HDTC-PGDKimBoi ngày 22/6/2020 được ký kết giữa Ngân hàng B và các thành viên trong hộ gia đình ông Bùi Văn P1.

Quá trình vay vốn các bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 01/5/2021 và phải chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận đã ký kết. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bên vay và các đồng sở hữu tài sản thế chấp thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng các bên không thực hiện.

Tạm tính đến ngày 10/07/2024 dư nợ gốc còn lại là 329.968.000đ. Nợ lãi trong hạn = 4.163.021 đồng. Lãi quá hạn = 98.319.072 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi = 432.450.093đ ( Bốn trăm ba mươi hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn không trăm chín mươi ba đồng ).

Vì vậy Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu ông P, bà D có nghĩa vụ liên đới trả số nợ trên. Trường hợp không trả hoặc trả không đầy đủ thì đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.Yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thực tế thanh toán hết mọi khoản nợ.

Đối với khoản tiền lãi phạt chậm trả = 6.216.953 đồng Nguyên đơn xin rút không yêu cầu.

2

Quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông P bà D xác nhận vợ chồng ông bà có vay vốn của Ngân hàng B, phòng giao dịch huyện K theo Hợp đồng tín dụng như ý kiến của phía Nguyên đơn đã trình bày. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là QSD thửa đất số 23, tờ bản đồ số 01 ở khu N, thị trấn B, K, tỉnh Hòa Bình. Giấy CNQSD đất số R 591652 đứng tên hộ ông Bùi Văn P1 ( bố đẻ ông P).

Do tình hình làm ăn khó khăn nên vợ chồng ông bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Nay ngân hàng B khởi kiện, vợ chồng ông bà xác nhận còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 12/04/2024 là 502.766.649 ( Năm trăm linh hai triệu, bảy trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm bốn mươi chín) đồng. Trong đó: nợ gốc là 395.472.570 đồng; nợ lãi là 107.294.079 đồng. Tuy nhiên do điều kiện khó khăn nên vợ chồng ông bà chỉ có thể trả 5.000.000 đồng/ mỗi tháng trong một năm rưỡi, sau một năm rưỡi sẽ cố gắng trả thêm, đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện.

Tại bản tự khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Q trình bày :

Ngày 23/6/2020 vợ chồng em trai Bùi Văn P đã vay Ngân hàng B số tiền 550.000.000đ ( năm trăm năm mươi triệu đồng ) và có thế chấp QSD thửa đất số 25 tờ bản đồ số 01 theo Giấy CNQSD đất số R 591652 đứng tên hộ ông Bùi Văn P1 để đảm bảo cho khoản vay. Sự việc này bà có biết và đồng ý. Nay vợ chồng P, D vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bà không đồng ý phát mại tài sản bảo đảm mà đề nghị vợ chồng Phong D1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Tại đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt bà Bùi Thị Ữ đề nghị xem xét yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm của Nguyên đơn theo quy định pháp luật nhưng phải bảo đảm nơi ăn chốn ở cho gia đình bà vì đó là chỗ ở duy nhất của gia đình bà.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn P, Bùi Văn P3 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc và cũng không gửi văn bản thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Kết quả : Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 01, địa chỉ khu N, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình có diện tích = 998 m² .Tài sản gắn liền trên đất gồm : 01 ngôi nhà kiên cố 2 tầng nối liền gian nhà cấp 4 có tổng diện tích = 130m² và 01 ngôi nhà ( 01 tầng 01 tum ) có diện tích = 42m² . Tường bao xây dài 60m, cổng sắt.

Do các đương sự không thống nhất được về toàn bộ nội dung vụ án nên vụ án phải đưa ra xét xử.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tại phiên tòa :

  • - Về tố tụng : Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn P, Bùi Văn P3 không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án : Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; khoản 1 điều 147; điều 157; điều 217; điều 228; điều

3

235; điều 244; điều 266; điều 271 và điều 273 của BLTTDS.

Căn cứ các Điều 288; 292; 293; 298;299; 317; 318; 319; 320; 321; 322; 323; 401; 463; 466; 468 BLDS 2015.

Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng 2017.

Căn cứ Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/07/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử :

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn :

Buộc ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị D phải liên đới thanh toán trả Ngân hàng TMCP B số tiền :

Nợ gốc là 329.968.000đ ( Ba trăm hai mươi chín triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng )

Nợ lãi tạm tính đến ngày 10/07/2024 cụ thể : Lãi trong hạn = 4.163.021 đồng. Lãi quá hạn = 98.319.072 đồng.

Tổng cộng cả gốc và lãi = 432.450.093đ ( Bốn trăm ba mươi hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn không trăm chín mươi ba đồng )

Kể từ ngày 11/07/2024 cho đến khi thi hành án xong ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị D còn phải liên đới tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị D không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gồm quyền sử dụng thửa đất số 23, tờ bản đồ số 01 và các tài sản gắn liền trên thửa đất này tại địa chỉ khu N, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình chi tiết theo Hợp đồng thế chấp và phụ lục Hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa các bên.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về số tiền lãi phạt chậm trả = 6.216.953 đồng.

Các đương sự phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định :

[ 1] Về tố tụng :

Hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi,

4

quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong Hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp dân sự mà cụ thể là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Các Bị đơn có đăng ký HKTT huyện K, tỉnh Hòa Bình. Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

Tại phiên tòa các đồng bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ quá hai lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, bà Bùi Thị Ữ có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án các bị đơn đã trình bày rõ quan điểm của mình và đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng những vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành giải quyết xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[ 2] Về nội dung vụ án :

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc và lãi của Nguyên đơn :

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong Hồ sơ vụ án HĐXX nhận thấy :

Vợ chồng ông P bà D có vay vốn của Ngân hàng TMCP B, phòng giao dịch huyện K theo Hợp đồng tín dụng số HDTD2022020200 ngày 23/6/2020 với số tiền vay là 550.000.000đ ( năm trăm năm mươi triệu đồng ). Thời hạn vay từ ngày 23/6/2020 đến ngày 23/6/2030. Mục đích vay : Mua sắm tài sản tại thửa đất số 23, tờ bản đồ số 01 ở khu N, thị trấn B, K, tỉnh Hòa Bình.

Xét việc giao kết Hợp đồng tín dụng giữa các bên là tự nguyện. Nội dung và hình thức của các Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng các Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi khi đến hạn nên các khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 10/07/2024 các Bị đơn còn nợ số tiền gốc là 329.968.000₫ ( Ba trăm hai mươi chín triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng )

Nợ lãi tạm tính đến ngày 10/07/2024 cụ thể : Lãi trong hạn = 4.163.021 đồng. Lãi quá hạn = 98.319.072 đồng.

Tổng cộng cả gốc và lãi = 432.450.093đ ( Bốn trăm ba mươi hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn không trăm chín mươi ba đồng ).

Xét cách tính lãi của Nguyên đơn là đúng theo thỏa thuận giữa 2 bên trong các Hợp đồng tín dụng, mức lãi suất phù hợp quy định pháp luật. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc các Bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi như trên là có căn và cần chấp nhận.

Phía bị đơn xin trả dần nhưng Nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận đề nghị này của phía bị đơn.

Tại phiên tòa Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản lãi phạt chậm trả = 6.216.953 đồng nên HĐXX đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện này của Nguyên đơn.

5

Nguyên đơn yêu cầu tiếp tục tính lãi trên số tiền các bị đơn phải thanh toán theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong mọi khoản nợ là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên cũng cần chấp nhận.

[ 2.2 ] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp :

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/2019/HDTD/PGDKimBoi ngày 05/01/2029 được ký kết giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, các bên đã công chứng hợp đồng và làm thủ tục đăng ký thế chấp theo đúng quy định pháp luật nên hợp đồng có hiệu lực.

Tại Điều 2 của Hợp đồng đã quy định : Tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng thửa đát số 23 tờ bản đồ số 01 tại địa chỉ khu N thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình và các tài sản gắn liền với tài sản thế chấp do bên thế chấp đầu tư, tạo lập trước và trong khi thế chấp...

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất số 23, tờ bản đồ số 01, địa chỉ khu N, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình ( Giấy CNQSD đất số R 591652 đứng tên hộ ông Bùi Văn P1 do UBND huyện K cấp ngày 15 tháng 5 năm 2000 ) có tổng diện tích = 998 m² .Tài sản gắn liền trên đất gồm : 01 ngôi nhà kiên cố 2 tầng nối liền gian nhà cấp 4 có tổng diện tích = 130m² và 01 ngôi nhà ( 01 tầng 01 tum) có diện tích = 42m² . Tường bao xây dài 60m, cổng sắt.

Các tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu và sử dụng của các thành viên trong hộ gia đình ông Bùi Văn P1, tất cả các thành viên trong hộ gia đình đều đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/2019/HDTD/PGDKimBoi thỏa thuận đồng ý thế chấp QSD đất và các tài sản gắn liền trên đất để đảm bảo cho các khoản vay của vợ chồng ông P bà D tại Ngân hàng B.

Nay vợ chồng ông P bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nguyên đơn đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bên vay và các đồng sở hữu tài sản thế chấp thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng các bên không thực hiện. Vì vậy Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trong trường hợp ông P bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ là có căn cứ và phù hợp với sự thỏa thuận của các bên. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của Nguyên đơn.

[ 3] Về án phí :

Các đương sự phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

6

Căn cứ vào khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; khoản 1 điều 147; điều 157; điều 217; điều 228; điều 235; điều 244; điều 266; điều 271 và điều 273 của BLTTDS.

Căn cứ các Điều 288; 292; 293; 298; 299; 317; 318; 319; 320; 321; 322; 323; 401; 463; 466; 468 BLDS 2015.

Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng 2017.

Căn cứ Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/07/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử :

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn :
  2. Buộc ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị D phải liên đới thanh toán trả Ngân hàng TMCP B số tiền :

    Nợ gốc là 329.968.000đ ( Ba trăm hai mươi chín triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng )

    Nợ lãi tạm tính đến ngày 10/07/2024 cụ thể : Lãi trong hạn = 4.163.021 đồng. Lãi quá hạn = 98.319.072 đồng.

    Tổng cộng cả gốc và lãi = 432.450.093đ ( Bốn trăm ba mươi hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn không trăm chín mươi ba đồng ).

    Kể từ ngày 11/07/2024 cho đến khi thi hành án xong ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị D còn phải liên đới tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị D không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xủa lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gồm quyền sử dụng thửa đất số 23, tờ bản đồ số 01 và các tài sản gắn liền trên thửa đất này tại địa chỉ khu N, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Giấy CNQSD đất số R 591652 đứng tên hộ ông Bùi Văn P1 do UBND huyện K cấp ngày 15 tháng 5 năm 2000 ).

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về yêu cầu tính lãi phạt chậm trả = 6.216.953 đồng
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng : Ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị D phải liên đới chịu 21.298.000₫ ( Hai mươi mốt triệu hai trăm chín mươi tám nghìn đồng ) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
  5. Hoàn lại Ngân hàng TMCP B 11.210.000đ ( Mười một triệu hai trăm mười nghìn đồng ) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình theo Biên lai THA số 0005623ngày 20/07/2023.

7

  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ : Ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị D phải liên đới thanh toán trả Ngân hàng TMCP B 5.000.000đ ( Năm triệu đồng ) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo : Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận

  • - Tòa án ND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - VKSND huyện Kim Bôi;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

 

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HOÀ BÌNH về tranh chấp hđ tín dụng

  • Số bản án: 04/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP B yêu cầu Ông P, bà D thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ thanh toán theo các hơp đồng tín dụng đã ký
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger