TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/KDTM-ST
Ngày: 17-4-2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng thi công”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Đổi;
- Ông Nguyễn Chí Lin;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Mạnh Khang – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 tháng 4 năm 2024 và ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/TLST/KDTM, ngày 31/10/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST - KDTM ngày 06 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH X.
Trụ sở: Số I, Ấp T, xã Đ, huyện Đ, Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thế M – Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Lư Quốc C, sinh năm: 1947, Địa chỉ: B N, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/12/2023);
- Bà Lương Tường V, sinh năm 1975. Địa chỉ: 100/7/1 L, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/12/2023);
- Ông Từ Khánh H, sinh năm 1958. Địa chỉ: B N, phường H, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/12/2023);
- Ông Nguyễn Tấn Minh Q, sinh năm 1989. Địa chỉ: B P, tổ A, B'lao, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/12/2023);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Trường C1 - Luật sư Văn phòng L2 - Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Công ty TNHH L3.
Trụ sở: Lô HC1 Đường số C, khu công nghiệp X, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Mr. HSU Ching Piao – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Trần Thị Thủy T, sinh năm 1996;
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: P, Số I, P, phường Đ, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 22/3/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Đinh Thị Huỳnh N - Luật sư Công ty L4 - Đoàn Luật sư thành phố H
(Các bên đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Trong đơn khởi kiện ngày 25/7/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty TNHH X do ông Lư Quốc C, bà Lương Tường V, ông Nguyễn Tấn Minh Q, ông Từ Khánh H đại diện trình bày:
Ngày 19/01/2018, Công Ty TNHH X (gọi tắt là Công ty X) có ký kết Hợp đồng số 01/HĐXL-KVLA-2018 với Công Ty TNHH L3 (gọi tắt là công ty L3) để thi công Công trình nhà xưởng C (Khung cột dầm sắt tổ hợp, sàn bê tông giả, tường gạch - Theo bản vẽ và thiết kế đã được Sở Xây Dựng tỉnh L thẩm duyệt và cấp phép) với tổng trị giá hợp đồng là 54.981.525.000 đồng (đã có thuế VAT). Trong quá trình thi công Hợp đồng nêu trên, Công ty L3 có thay đổi một số thiết kế ở một số hạng mục, đề nghị Công ty X thi công, xây dựng thêm một số công trình phụ xung quanh Công trình nhà xưởng C với 22 hạng mục phát sinh, tổng giá trị chi phí phát sinh là 7.726.856.073 đồng (giá chưa có VAT).
Ngày 15/11/2019, hai lãnh đạo công ty đã họp tại Khách Sạn N1 số A H, Phường F, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh với nội dung là bàn giao hồ sơ Công trình nhà xưởng C và hồ sơ 22 hạng mục phát sinh và có cam kết trả nợ của Công Ty L3 (Đính kèm biên bản giao nhận). Sau khi Công ty X bàn giao hồ sơ Công trình nhà xưởng C và hồ sơ các hạng mục phát sinh cho Công Ty L3 xong, Công Ty L3 không thanh toán số tiền mà hai bên đã chốt nêu trên. Ngày 16/05/2022, Công Ty X có gửi Công văn đến Công ty L3 yêu cầu phải hoàn trả số tiền phát sinh với số tiền là 7.726.856.073 đồng, nhưng Công ty L3 vẫn không thanh toán.
Công ty X có đủ cơ sở xác định Công trình nhà xưởng C có phát sinh 22 hạng mục nhưng sau đó Công ty L3 chỉ thanh toán được 09 hạng mục bằng Hợp đồng số 18/HĐXL-KVLA-2019 vào ngày 15/11/2019, còn lại 13 hạng mục mà Công ty L3 chưa thanh toán cho Công ty X gồm: Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13 thể hiện trên các bản vẽ ký hiệu 01/06; 5/11; 7/11; 3/11; 4/11; 1/11; 2/11; 11/11; 10/11; 9/11; 8/11; 6/11. Tất cả các bản vẽ này ông Hsuching P
đều có ký tên đóng dấu xác nhận và biết rõ khối lượng công việc phát sinh nhưng cố tình không thanh toán chi phí phát sinh còn lại là 5.093.369.597 đồng
Nay Công ty X yêu cầu Công ty L3 trả một lần số tiền 5.093.369.597 đồng (Năm tỷ không trăm chín mươi ba triệu ba trăm sáu mươi chín ngàn năm trăm chín mươi bảy đồng) và không yêu cầu tính lãi. Công ty X không còn yêu cầu gì khác.
[2]. Bị đơn TNHH L3 do Bà Nguyễn Thị Thanh T1 đại diện trình bày:
Ngày 19/01/2018, Công ty L3 có ký kết Hợp đồng số 01/HĐXL-KVLA-2018 với Công ty X. Tổng giá trị Hợp đồng là 54.981.525.000 đồng. Tại Điều 2.1 của Hợp đồng có quy định “Nếu có phát sinh tăng hay giảm ngoài bản vẽ thiết kế, hai bên thỏa thuận ký bổ sung Phụ lục Hợp đồng và thỏa thuận thanh toán theo giá thời điểm lúc ký Phụ lục Hợp đồng”. Trên cơ sở đó, trong quá trình thi công, các bên có trao đổi và thống nhất có phát sinh 09 hạng mục. Việc tăng các hạng mục thi công này làm phát sinh số tiền cụ thể là 1.952.953.063 đồng. Khi đó, các bên đã thỏa thuận, thống nhất và ký kết Hợp đồng số 18/HĐXL-KVLA-2019 vào ngày 15/11/2019 (thay vì lập Phụ lục của Hợp đồng số 01). Tổng giá trị Hợp đồng số 18/HĐXL-KVLA-2019 là 1.952.953.063 đồng và thanh toán một lần khi hoàn thành thi công và nghiệm thu. Đến thời điểm hiện tại, Công ty L3 đã thanh toán đầy đủ giá trị của Hợp đồng số 01/HĐXL-KVLA-2018 và Hợp đồng số 18/HĐXL-KVLA-2019.
Đối với yêu cầu của Công ty X buộc Công ty L3 phải trả số tiền phát sinh do xây dựng Công trình nhà xưởng C có phát sinh một số hạng mục với số tiền là 5.093.369.597 đồng, Công ty L3 không đồng ý bởi vì: thực hiện Hợp đồng số 01, Công ty L3 đã thanh toán đầy đủ vào ngày 17/01/2022 cho Công ty X với tổng số tiền là 54.981.525.000 đồng; Sau đó, đối với các hạng mục tăng thêm so với Hợp đồng số 01 thì các bên đã thỏa thuận và ký kết Hợp đồng số 18. Phần phát sinh này, Công ty L3 cũng đã thanh toán đầy đủ vào ngày 17/01/2022 cho Công ty X tổng số tiền là 1.952.953.063 đồng.
Do đó, Công ty L3 không có yêu cầu phản tố trong vụ tranh chấp này và đề nghị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà bác yêu cầu khởi kiện của Công ty X.
[3]. Tại phiên tòa, các bên tranh luận:
[3.1]. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận:
Ngày 19/01/2018, Công ty X ký kết Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018 với Công ty L3 để thi công Công trình nhà xưởng C với tổng trị giá hợp đồng là 54.981.525.000 đồng (giá trị đã có VAT)
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng thi công nêu trên, Công ty L3 có thay đổi thiết kế và yêu cầu Công ty X xây dựng thêm một số công trình phụ xung quanh Công trình nhà xưởng C với tổng giá trị phát sinh là 7.726.856.073 đồng. Cụ thể: Ông Hsu Ching P1 đã phát thảo 22 hạng mục thay đổi (có đính kèm chứng cứ). Đồng thời, ông Hsu Ching P1 đã ký duyệt bảng vẽ hoàn công 22 hạng mục (có đính kèm chứng cứ); Công ty X đã trình Bảng tổng báo giá phát sinh này cho ông Hsu Ching P1.
Ngày 26/07/2019, BQL Khu Kinh tế Tỉnh L đã có văn bản số 61/BQLKKT-XD với nội dung là: chấp thuận nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng Nhà xưởng C – Nhà máy L5. Công ty X cùng làm công tác tiến hành nghiệm thu thực tế những hạng mục phát sinh với đại diện của Công ty L3 do ông Hsu Ching P1 chỉ định. gồm :
- + Bà Dư Ngọc Huyền T2 – Thư ký của ông Hsu Ching P1 - Công ty L3.
- + Ông Trần Quốc P2 – Giám sát công trình của Công ty L3
- + Ông Lê H1 – Phó giám đốc - Kỹ sư trưởng Công ty X.
- + Ông Nguyễn Tấn Minh Q - Kỹ sư Công ty X.
- + Bà Lương Tường V – Kế toán Công ty X.
Từ ngày 01/11/2019 – 04/11/2019, Công ty X và Công ty L3 cùng nghiệm thu thực tế các hạng mục phát sinh tại Công trình nhà xưởng C (lúc này đã được đưa vào sử dụng hoạt động),
Vào lúc 15h30 ngày 04/11/2019, các bên thống nhất lập và ký vào Biên bản nghiệm thu thực tế 22 hạng mục phát sinh. Mỗi phát sinh đều có nghiệm thu trên bản vẽ và khối lượng thực tế, có đầy đủ chữ ký của nhân viên đi nghiệm thu của hai công ty, ông Hsu Ching P1 đã ký duyệt bảng vẽ hoàn công 22 hạng mục phát sinh. Đơn giá của các hạng mục phát sinh này đều áp dụng theo giá của Bảng dự toán năm 2018 khi ký Hợp đồng. Biên bản này mỗi bên giữ 1 bản, bao gồm các hạng mục (có đính kèm chứng cứ)
Ngày 15/11/2019, ông Hsu Ching P1 yêu cầu hai bên gặp nhau tại Khách Sạn N1 số A H, P.6, Quận C, TP . để họp có nội dung bàn việc thanh toán các hạng mục phát sinh và bàn giao hồ sơ Công trình nhà xưởng C và hồ sơ các hạng mục phát sinh cho Công ty L3. Sau đó, ông Hsu Ching P1 đã đồng ý thanh toán trước 09 hạng mục: Tổng cộng số tiền 2.408.432.416 đồng (chưa bao gồm thuế VAT).
Ngày 11/12/2019, do Công ty L3 vẫn chưa thanh toán số tiền của 09 hạng mục nêu trên. Công ty X có gởi mail Công văn yêu cầu thanh toán, ngày 28/12/2022 bà Dư Ngọc Huyền T2 – Thư ký của ông Hsu Ching P1 đã trả lời qua mail đề nghị phải giảm giá thì mới tiến hành thanh toán, cụ thể: từ số tiền 2.408.432.416 đồng, giảm còn 1.952.953,063 đồng. Vì thế Công ty X và Công ty L3 thống nhất lập Hợp đồng 18/HĐXL-KVLA-2019 ngày 15/11/2019 để được thanh toán trước 09/22 hạng mục phát sinh với số tiền là 1.952.953,063 đồng .
Sau đợt thanh toán này, Công ty L3 vẫn còn nợ 13 hạng mục phát sinh với số tiền là 5.093.369.597 đồng. Công ty X đã nhiều lần gởi Công văn nhắc công nợ và yêu cầu gặp ông Hsu Ching P1 bàn về công nợ còn lại nhưng Công ty L3 không phản hồi.
Do đó, Công ty X căn cứ vào hồ sơ của 13 hạng mục mà Công ty L3 chưa thanh toán cho Công ty X gồm: Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13 thể hiện trên bản vẽ ký hiệu 01/06; 5/11; 7/11; 3/11; 4/11; 1/11; 2/11; 11/11; 10/11; 9/11; 8/11; 6/11. Tất cả các bản vẽ này ông Hsuching P đều có ký tên đóng dấu xác nhận và biết rõ khối lượng phát sinh để làm căn cứ khởi kiện tiền
phát sinh từ Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018 ngày 19/01/2018 là 5.093.369.597 đồng .
Để có cơ sở giải quyết vụ án đúng pháp luật, Công ty X có yêu cầu định giá tài sản để xác định giá trị của 13 hạng mục này. Ngày 10/7/2023, TAND huyện Đức Hoà ban hành Quyết định xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản để xác định khối lượng công việc và giá trị các hạng mục thi công. Tuy nhiên, khi Tòa án cùng các bên đến xem xét thẩm định tại chổ Nhà xưởng C – Nhà máy L5 vào ngày 01/8/2023, thì bị đơn có thái độ bất hợp tác và không đồng ý cho định giá nên đề nghị Tòa án căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở phán quyết.
Nay, nguyên đơn yêu cầu TAND huyện Đức Hoà giải quyết buộc Công Ty TNHH L3 phải trả cho Công ty X tiền thi công 13 hạng mục phát sinh từ Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018 ngày 19/01/2018, với số tiền là 5.093.369.597 đồng.
[3.2]. B à Đinh Thị Huỳnh N là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận:
1. Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty X tại Đơn khởi kiện ngày 25/7/2022:
+ Về yêu cầu Tòa án buộc Công ty L3 phải trả số tiền phát sinh do xây dựng Công trình nhà xưởng C với số tiền là 5.093.369.597 đồng phát sinh từ Hợp đồng số 01, Công ty L3 không đồng ý vì các lý do sau:
Hợp đồng thi công 01/HĐXL-KVLA-2018, Công ty L3 đã thực hiện thanh toán đầy đủ vào ngày 17/01/2022 cho Công ty X tổng số tiền là 54.981.525.000 đồng
Đối với các hạng mục tăng trong quá trình thi công Hợp đồng số 01 thì các bên đã thỏa thuận và ký kết bằng Hợp đồng số 18. Công ty L3 cũng đã thanh toán đầy đủ vào ngày 17/01/2022 cho Công ty X tổng số tiền là 1.952.953.063 đồng.
Căn cứ Điều 2 của Hợp đồng thi công 01/HĐXL-KVLA-2018 quy định, “nếu bản vẽ không thay đổi, Công ty X không được viện lý do vì báo thiếu khối lượng mà yêu cầu tính phát sinh, cần phải căn cứ bản vẽ để làm cơ sở hoàn tất công trình”; Điều 5 của Hợp đồng quy định: “phần công trình thay đổi có trong hạng mục của Hợp đồng thì tính theo đơn giá đã ghi trong Hợp đồng; phần tăng thêm không có đơn giá trong hợp đồng và ảnh hưởng đến tiến độ thi công thì đơn giá và thời gian thi công sẽ do hai bên thỏa thuận”.
Ngày 25/5/2018, Công trình nhà xưởng C được Ban Q1 cấp Giấy phép xây dựng. Công ty X đã triển khai thi công, nghiệm thu và bàn giao Công trình nhà xưởng C cho Công ty L3. Ngày 26/7/2019, Ban Q1 ban hành Thông báo số 61/BQLKKT-XD về việc thông báo kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng nhà xưởng C của Công ty L3. Theo đó, đối chiếu Giấy phép xây dựng số 82/GPXD, chấp thuận kết quả nghiệm thu của Công ty L3, bản vẽ hoàn công làm căn cứ phê duyệt kết quả nghiệm thu không có thay đổi so với bản vẽ được cấp phép.
Ngày 29/8/2019, Công ty X xuất Hóa đơn VAT số 000025 cho Công ty L3, tương ứng với giá trị phải thanh toán cho đợt 10, 05% giá trị Hợp đồng số 01 – khi nhận được giấy chứng nhận hoàn công.
Ngày 10/9/2019, Công ty L3 hoàn tất thanh toán cho Công ty X đến đợt thanh toán thứ 10 theo các Hóa đơn đã xuất (95% giá trị Hợp đồng số 01) và giữ lại 05% giá trị Hợp đồng tương ứng với tiền bảo hành.
Trong suốt quá trình nêu trên, Công ty X không đề nghị bất kỳ khoản chi phí phát sinh nào đến Công ty L3. Đến ngày 16/10/2019, Công ty X mới có Công văn số 1610/2019 yêu cầu Công ty L3 sắp xếp buổi họp trực tiếp để trao đổi về việc thanh toán phần phát sinh 7.391.167.892 đồng (tạm tính) và Công ty X sẽ bàn giao hồ sơ gốc theo yêu cầu tại cuộc họp này.
Với mong muốn nhận được hồ sơ gốc, bản vẽ gốc Công trình nhà xưởng C để lưu trữ, đồng thời, cũng với thiện chí giải quyết sự việc, Công ty L3 đã hợp tác với Công ty X để trao đổi. Sau khi trao đổi, các bên thống nhất các hạng mục phát sinh và ký kết bổ sung Hợp đồng thi công số 18/HĐXL-KVLA-2019 (“Hợp đồng số 18”) vào ngày 15/11/2019, với giá trị 1.952.953.063 đồng. Đồng thời, Công ty L3 đã hoàn tất thanh toán giá trị của Hợp đồng số 18 vào ngày 17/01/2020.
Như vậy, trong vụ án này, Công ty X là bên cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên Công ty X phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh theo Khoản 1 Điều 91 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015.
Ngoài ra, trên thực tế thì Bản vẽ hoàn công không có thay đổi so với Bản vẽ cấp phép, các bên cũng không có văn bản thỏa thuận nào về việc tăng giá trị công trình và cho đến thời điểm xét xử, Công ty X cũng không cung cấp được hồ sơ, tài liệu nào để phản bác nội dung trên và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình.
Vì vậy, Công ty X không có bất kỳ căn cứ nào để yêu cầu Công ty L3 phải trả số tiền 5.093.369.597 đồng như hồ sơ khởi kiện. Theo diễn biến vụ việc nêu trên, khẳng định rằng, Công ty L3 đã thực hiện nghiêm, đầy đủ tất cả nghĩa vụ, trách nhiệm của mình theo thỏa thuận các công việc có liên quan đến Công trình nhà xưởng C. Do đó, Công ty L3 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty X về việc buộc Công ty L3 phải thanh toán số tiền cho các hạng mục phát sinh là 5.093.369.597 đồng.
Căn cứ vào các lập luận trên, kính đề nghị HĐXX xem xét và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty X về việc buộc Công ty L3 phải thanh toán số tiền cho các hạng mục phát sinh là 5.093.369.597 đồng.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án theo qui định tại Điều 262 BLTTDS năm 2015:
- Về thủ tục: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa đúng và đầy đủ người vào tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ và điều tra vụ án được tiến hành khách quan, đúng pháp luật; không có đương sự khiếu nại trong quá trình giải quyết vụ án. Tham gia trực tiếp tại phiên tòa xét thấy các bên đương sự và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng qui định pháp luật. Tại phiên tòa nguyên
đơn xác định rõ yêu cầu khởi kiện và có rút một phần yêu cầu; bị đơn trình bày rõ ý kiến phản bác; các bên không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.
Về nội dung vụ án:
Công ty X và Công ty L3 thừa nhận có ký kết hợp đồng thi công công trình Nhà xưởng C (Khung cột dầm sắt tổ hợp, sàn bê tông giả, tường gạch), phù hợp với nội dung Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018 ngày 19/01/2018, các bên thống nhất sau khi nghiệm thu, thanh lý hợp đồng số 01 nêu trên, các bên đã ký kết Hợp đồng thi công số 18 ngày 15/11/2019, lập Biên bản nghiệm thu công trình hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng ngày 08/01/2020, đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thấy rằng, sau khi các bên thanh lý Hợp đồng số 01, các bên tiến hành nghiệm thu thực tế khối lượng các hạng mục phát sinh để hoàn thành công trình Nhà xưởng C, theo Biên bản làm việc ngày 04/11/2019 (Công ty L3 do bà Dư Ngọc Huyền T2 – Thư ký, Trần Quốc P2 – Giám sát công trình; Công ty X do ông Lê H1 – Phó Giám đốc, Kỹ sư, ông Nguyễn Tấn Minh Q – Kỹ sư, Lương Tường V – Kế toán đại diện cho hai Công ty xác lập). Theo đó, Biên bản làm việc thể hiện có 22 hạng mục phát sinh để hoàn thành Công trình Nhà xưởng C.
Căn cứ vào Biên bản làm việc ngày 04/11/2019 nêu trên, Công ty L3 và Công ty X đã ký kết Hợp đồng thi công số 18 ngày 15/11/2019 thống nhất 09 hạng mục phát sinh có giá trị là 1.775.411.875 đồng (chưa thuế), sau thuế là 1.952.953.063 đồng; còn 13 hạng mục còn lại các bên chưa thống nhất nên phát sinh khởi kiện tranh chấp.
Căn cứ vào Vi bằng số 534 lập ngày 18/12/2023 cho thấy, Công ty X đã nhiều lần gửi qua hợp thư mail của bà T2 (thư ký của ông HSU C – Tổng Giám đốc Công ty L3) các tài liệu thể hiện nội dung yêu cầu Công ty L3 họp bàn bạc tổng kết công nợ của công trình phát sinh; ngoài ra, Công ty X đã nhiều lần gửi các Công văn yêu cầu giải quyết, thanh toán số tiền phát sinh còn lại của Công trình xây dựng Nhà xưởng C đến Công ty L3.
Đại diện Công ty L3 không thừa nhận tính hiệu lực của Biên bản làm việc ngày 04/11/2019 với lý do chỉ mang tính chất trao đổi thông tin giữa hai bên, không có giá trị ràng buộc đối với Công ty L3 vì không được lập thành thỏa thuận giữa hai bên (có chữ ký người đại diện theo pháp luật và đóng dấu của Công ty L3). Xét lý do của bị đơn đưa ra là mâu thuẫn, vì bị đơn không thừa nhận tư cách ký tên, xác nhận của bà T2 và ông P2 (tham gia ký với tư cách của Công ty L3) trong Biên bản làm việc ngày 04/11/2019 nhưng tại Biên bản đối chất ngày 05/5/2023 thể hiện, Công ty L3 xác nhận ngày 15/11/2019 hai bên Công ty có tổ chức cuộc họp tại Khách Sạn N1 số 167, H, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn thừa nhận nội dung cuộc hợp là bàn giao hồ sơ Công trình Nhà xưởng C và để thỏa thuận các hạng mục phát sinh, đồng thời, các bên đã đã ký kết Hợp đồng thi công số 18 ngày 15/11/2019 thống nhất 9 hạng mục phát sinh có giá trị là 1.775.411.875 đồng (chưa thuế), sau thuế là
1.952.953.063 đồng (hợp đồng này căn cứ vào các hạng mục thể hiện tại Biên bản làm việc ngày 04/11/2019).
Theo Vi bằng thể hiện, ngày 26/12/2019 thể hiện nội dung phản hồi của địa chỉ mail T2-Du@vn.loonwaycorp.comđịa email của bà Dư Thị Huyền T3 thư ký) có nội dung phản hồi thanh toán cho Công ty X.
Sau đó, hai Công ty đã lập Biên bản giao nhận hồ sơ gốc công trình Nhà xưởng C ngày 06/01/2020, theo Biên bản thể hiện sau khi nhận hồ sơ gốc theo danh sách, Công ty L3 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty X tất cả các hạng mục phát sinh theo tiến trình mà Công ty L3 đã gửi mail cho Công ty X ngày 28/12/2019. Ngày 08/01/2020, Công ty L3 và Công ty X đã lập Biên bản nghiệm thu 09 hạng mục, còn 13 hạng mục còn lại các bên không thống nhất.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lập Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/8/2023 để thẩm định 13 hạng mục là đối tượng tranh chấp của vụ, Công ty L3 thừa nhận 9 hạng mục (từ hạng mục số 5 đến số A) hiện trạng có tồn tại nhưng về kết cấu, khối lượng và nguồn gốc thì Công ty L3 không xác định; đối với hạng mục từ số 01 đến số 04 thì Công ty không thống nhất vì chưa được thẩm định thực tế để biết được số lượng, khối lượng; nguyên đơn xác định có dẫn người của Công ty L3 xem thực tế đối với mặt bằng lững của nhà Xưởng C (theo bản vẽ hoàn công) mà nguyên đơn cung cấp để chứng minh các hạng mục phát sinh (từ 01-04) nhưng bị đơn không thống nhất khi chưa biết khối lượng, số lượng nên nguyên đơn đề nghị bị đơn phân công cán bộ kỹ thuật hoặc kỹ sư phối hợp thực hiện, bị đơn không đồng ý phân công ai phối hợp với nguyên đơn trong việc kiểm, đếm.
Biên bản lấy lời khai ngày 24/8/2023, bị đơn không đồng ý định giá theo yêu cầu của nguyên đơn.
Căn cứ kết vào các chứng cứ, tình tiết nêu trên cho thấy, giữa Công ty L3 và Công ty X có thỏa thuận thống nhất các hạng mục phát sinh để hoàn thành công trình Nhà xưởng C. Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, đã đề nghị Tòa án thẩm định, định giá các hạng mục mà nguyên đơn khởi kiện, bị đơn chỉ thừa nhận có tồn tại 09 hạng mục nhưng không thừa nhận do Công ty X thực hiện và bị đơn không hợp tác để Tòa án thẩm định cũng như trưng cầu cơ quan giám định khối lượng, kết cấu thiết kế mà nguyên đơn đã đưa ra.
Xét các tài liệu có trong hồ sơ thấy rằng, các hạng mục phát sinh được thể hiện tại các bản vẽ có ký hiệu sau: 01/06; 5/11; 7/11; 6/11; 8/11; 9/11; 10/11; 11/11; 02/11; 1/11; 4/11; 3/11; các bản vẽ này có thể hiện các hạng mục phát sinh và có chữ ký đóng dấu xác nhận của ông Hsuching P. Đối với 13 hạng mục tranh chấp, được thể hiện cụ thể như sau: Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13 thể hiện trên bản vẽ ký hiệu 01/06; 5/11; 7/11; 3/11; 4/11; 1/11; 2/11; 11/11; 10/11; 9/11; 8/11; 6/11. Tất cả các bản vẽ này ông Hsuching P đều có ký tên đóng dấu xác nhận và biết rõ công việc phát sinh. Hạng mục số 5, 9 không thể hiện trên bản vẽ nhưng có hình ảnh chụp thực tế. Bản vẽ sau khi phát sinh các hạng mục do Công ty L3 yêu cầu và có ký tên đóng dấu xác nhận của ông Hsuching P.
Tại phiên tòa, bị đơn vẫn không đồng ý cho trưng cầu giám định, không đồng ý định giá tài sản, dẫn đến không chứng minh được các hạng mục đang tranh chấp do tổ chức, công ty hay cá nhân nào khác thực hiện, không chứng minh các hạng mục tranh chấp nằm trong bản vẽ thiết kế, bản vẽ hoàn công đã được phê duyệt. Trong 22 hạng mục phát sinh đều có chữ ký đóng dấu xác nhận của ông Hsuching P, nhưng bị đơn thừa nhận 9 hạng mục và đã thanh toán xong, điều này chứng minh các hạng mục phát sinh ngoài hợp đồng khi tiến hành thiết kế, thực hiện có sự đồng ý của bị đơn, không phải do nguyên đơn tự ý thực hiện.
Do bị đơn không hợp tác để Tòa án thực hiện công tác thẩm định cũng như trưng cầu cơ quan chuyên môn giám định chất lượng, các hạng mục công trình, định giá tài sản tranh chấp nên bị đơn phải chịu hệ quả bất lợi của mình từ việc từ bỏ nghĩa vụ chứng minh theo Điều 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Từ các chứng cứ và phân tích nêu trên, đề nghị chấp chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như phân tích trên.
Do đó, Công ty X khởi kiện Công ty L3 tranh chấp đối với các hạng mục phát sinh công trình Nhà xưởng C từ Hợp đồng thi công 01/HĐXL-KVLA-2018, trong đó chi phí phát sinh là 5.093.369.597 đồng là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện ngày 08/9/2023, Công ty X khởi kiện Công ty L3 tranh chấp Hợp đồng thi công 01/HĐXL-KVLA-2018, yêu cầu Tòa án nơi bị đơn Công ty L3 đặt trụ sở giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thi công đối với công trình Nhà xưởng C. Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý vụ án xác định là vụ án kinh doanh thương mại và quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng thi công” ; việc thụ lý vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện, đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 317, 319 Luật thương mại năm 2005; các Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp có Viện kiểm sát tham gia theo qui định khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty X:
Công ty X cho rằng thực hiện Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018, Công ty L3 đã thanh toán đủ vào ngày 17/01/2022 cho Công ty X tổng số tiền là 54.981.525.000 đồng. Tuy nhiên, Công trình nhà xưởng C có phát sinh 22
hạng mục, các hạng mục phát sinh đều có chữ ký đóng dấu xác nhận của ông Hsuching P nhưng Công ty L3 chỉ thanh toán được 09 hạng mục bằng Hợp đồng số 18/HĐXL-KVLA-2019 vào ngày 15/11/2019 với tổng số tiền là 1.952.953.063 đồng, còn lại 13 hạng mục Công ty L3 chưa thanh toán cho Công ty X gồm: Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13 thể hiện trên bản vẽ ký hiệu 01/06; 5/11; 7/11; 3/11; 4/11; 1/11; 2/11; 11/11; 10/11; 9/11; 8/11; 6/11. Tất cả các bản vẽ này ông Hsuching P đều có ký tên đóng dấu xác nhận và biết rõ công việc phát sinh nhưng cố tình không thanh toán chi phí phát sinh nên Công ty X yêu cầu Công ty L3 trả một lần số tiền 5.093.369.597 đồng
[2.2]. Công ty X khởi kiện có cung cấp các tài liệu chứng cứ:
- - Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018; Hợp đồng số 18/HĐXL-KVLA-2019 vào ngày 15/11/2019.
- - Các hạng mục tăng thêm trong quá trình thi công Hợp đồng số 01/HĐXL-KVLA-2018, bao gồm:
- + 09 hạng mục đã thanh toán Công ty L3 gồm: Hạng mục số 6, 8, 9 thể hiện trên bản vẽ ký hiệu 01/06 (có chữ ký phê duyệt của ông Hsu Ching P1 ; Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 5, 7 không thể hiện chi tiết trên bản vẽ nhưng có hình ảnh chụp thực tế; Các Bảng đối chiếu công nợ phải thu năm 2019 của Công ty X.
- + 13 hạng mục Công ty L3 chưa thanh toán cho Công ty X gồm: Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13 thể hiện trên bản vẽ ký hiệu 01/06 (có chữ ký phê duyệt của ông Hsu Ching P1 ); 5/11; 7/11; 3/11; 4/11; 1/11; 2/11; 11/11; 10/11; 9/11; 8/11; 6/11. Hạng mục số 5, 9 không thể hiện trên bản vẽ nhưng có hình ảnh chụp thực tế.
[2.3]. Tòa án thu thập chứng cứ: Ngày 10/7/2023, TAND huyện Đức Hoà ban hành Quyết định xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản để xác định khối lượng công việc và giá trị các hạng mục thi công liên quan đến Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018. Tại Biên bản Thẩm định ngày 01/8/2023 người đại diện Công ty L3 xác định có các hạng mục tồn tại Công trình nhà xưởng C nhưng không xác định đơn vị nào thi công và không đồng ý cho định giá tài sản nên Tòa án căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét.
[2.4]. Hội đồng xét xử xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.4.1]. Các bên thừa nhận: Quá trình thực hiện Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018 thì có phát sinh nhiều hạng mục (22 hạng mục). Ngày 15/11/2019, hai lãnh đạo công ty có gặm nhau tại Khách Sạn N H, P.6, Quận C, TP . để bàn bạc, nội dung bàn việc thanh toán các hạng mục phát sinh và bàn giao hồ sơ Công trình nhà xưởng C và hồ sơ các hạng mục phát sinh cho Công ty L3. Sau đó, ông Hsu Ching P1 đã đồng ý thanh toán trước 09 hạng mục, hai bên thống nhất bổ sung bằng Hợp đồng số 18/HĐXL-KVLA-2019 vào ngày 15/11/2019 và đã quyết toán xong 09 hạng mục. Các bên còn tranh chấp 13/22 hạng mục phát sinh từ Công trình nhà xưởng C.
Xem xét các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có 22 hạng mục
phát sinh được thể hiện qua các bản vẽ có ký hiệu sau: 01/06; 5/11; 7/11; 6/11; 8/11; 9/11; 10/11; 11/11; 02/11; 1/11; 4/11; 3/11; các bản vẽ này có thể hiện các hạng mục phát sinh và có chữ ký đóng dấu xác nhận của ông Hsuching P. Trong đó, Công ty L3 đã thanh toán được 09 hạng mục, cụ thể:
Hạng mục số 6, 8, 9 thể hiện trên bản vẽ ký hiệu 01/06; Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 5, 7 không thể hiện chi tiết trên bản vẽ nhưng có hình ảnh chụp thực tế. Các hạng mục này dựa theo Bảng đối chiếu công nợ phải thu năm 2019 Công ty X đã nộp cho Tòa án.
Còn lại 13 hạng mục mà Công ty L3 chưa thanh toán cho Công ty X là gồm: Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13 thể hiện trên bản vẽ ký hiệu 01/06; 5/11; 7/11; 3/11; 4/11; 1/11; 2/11; 11/11; 10/11; 9/11; 8/11; 6/11. Tất cả các bản vẽ này ông Hsuching P đều có ký tên đóng dấu xác nhận và biết rõ công việc phát sinh. Ngoài ra, còn có hạng mục số 5, 9 không thể hiện trên bản vẽ nhưng có hình ảnh chụp thực tế.
Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa thừa nhận Công ty L3 có ký và đã nhận các văn bản nêu trên, thì có căn cứ xác định:
Tòa án có tiến hành thẩm định 13 hạng mục là đối tượng tranh chấp của vụ án, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/8/2023, Công ty L3 thừa nhận 09 hạng mục (từ hạng mục số 5 đến số A) có tồn tại nhưng về kết cấu, khối lượng và nguồn gốc thì Công ty L3 không xác định; đối với hạng mục từ số 01 đến số 04 thì Công ty không thống nhất vì chưa được thẩm định thực tế để biết được số lượng, khối lượng; nguyên đơn xác định có dẫn người của Công ty L3 xem thực tế đối với mặt bằng lững của nhà Xưởng C (theo bản vẽ hoàn công) mà nguyên đơn cung cấp để chứng minh các hạng mục phát sinh (từ 01-04) nhưng bị đơn không thống nhất vì chưa biết khối lượng, số lượng nên nguyên đơn đề nghị bị đơn phân công cán bộ kỹ thuật hoặc kỹ sư phối hợp thực hiện, bị đơn không đồng ý phân công người phối hợp với nguyên đơn trong việc kiểm, đếm.
Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai ngày 24/8/2023, bị đơn không đồng ý cho Tòa án định giá 13 hạng mục là đối tượng tranh chấp theo yêu cầu của nguyên đơn.
Theo Vi bằng ngày 26/12/2019 có thể hiện nội dung phản hồi của địa chỉ mail T3-Du@vn.loonwaycorp.com(là địa email của bà Dư Thị Huyền T3 thư ký) có nội dung phản hồi thanh toán cho Công ty X.
Tại phiên tòa, Công Ty L3 cũng thừa nhận ngoài việc cùng Công ty X ký 02 Hợp đồng thi công: Hợp đồng số 01/HĐXL-KVLA-2018 ngày 19/01/2018 và hợp đồng số 18/HĐXL- KVLA-2019 ngày 15/11/2019. Công ty L3 không còn ký kết với bất kỳ đơn vị thi công nào khác để thi công các hạng mục phát sinh tại Công trình nhà xưởng C.
Quá trình giải quyết vụ án, Công Ty L3 không đồng ý cho định giá 13 hạng mục công trình để xác định giá trị tài sản tranh chấp chính xác nên bị đơn phải chịu hệ quả bất lợi của mình từ việc từ bỏ nghĩa vụ chứng minh theo Điều 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: thực hiện Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018 thực tế tại Công trình nhà xưởng C có phát sinh 22 hạng mục. Công ty L3 đã chấp nhận quyết toán 09 hạng mục nên ký bổ sung bằng Hợp đồng số 18/HĐXL-KVLA-2019 vào ngày 15/11/2019 và đã quyết toán được 09 hạng mục này. Còn lại 13/22 hạng mục phát sinh từ Công trình nhà xưởng C, Công ty L3 biết rõ có phát sinh 13 hạng mục này nhưng không quyết toán, không hợp tác giải quyết là chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018 cho Công ty X. Từ đó, Công ty X khởi kiện yêu cầu Công ty L6 Vĩ thanh toán chi phí phát sinh của 13 hạng mục còn lại của Công trình nhà xưởng C theo các chứng cứ đưa ra (Hạng mục số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13) là có căn cứ theo qui định tại Điều 50 Luật Thương mại năm 2005; Điều 280, khoản 2 Điều 433, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.4.2].Về yêu cầu khởi kiện của Công ty X: yêu cầu Công ty L3 trả một lần số tiền 5.093.369.597 đồng, không tính lãi suất.
Từ phân tích tại [2.4.1] thấy rằng, căn cứ các bản vẽ đã được ông Hsuching P ký tên và đóng dấu xác nhận và dựa trên khối lượng kiểm tra thực tế có xác nhận của bà Dư Ngọc Huyền T2 và ông Trần Quốc P2. Xác định được 13 hạng mục đã thi công có chi phí theo bảng thống kê ngày 18/10/2019, cụ thể như sau:
- - Hạng mục số 1: Thiết bị vệ sinh có giá trị 107.828.672 đồng;
- - Hạng mục số 2: Tường xây mới theo bản vẽ mới có giá trị 1.522.938.734;
- - Hạng mục số 3: Phát sinh cửa đi và cửa sổ theo bản vẽ mới có giá trị 1.222.285.128 đồng;
- - Hạng mục số 4: Sàn ban công đóng ô sàn giá trị 436.262.965 đồng (theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình ngày 22/10/2019);
- - Hạng mục số 5: Mương thoát nước sân đường xưởng C có giá trị 498.620.660 đồng (theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình hạng mục Mương thoát nước sân đường xưởng C ngày 31/7/2019);
- - Hạng mục số 6: Bê tông ram dốc 1 nối 2 xưởng A và C có giá trị 80.397.428 đồng (theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình Bê tông ram dốc 1 nối 2 xưởng A và C ngày 01/11/2019);
- - Hạng mục số 7: Bê tông ram dốc 2 nối 2 xưởng A và C có giá trị 175.725.479 đồng {theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình Bê tông ram dốc 2 nối 2 xưởng A và C ngày 01/11/2019);
- - Hạng mục số 8: Bê tông ram dốc 3 nối 2 xưởng A và C có giá trị 92.284.911 đồng (theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình Bê tông ram dốc 3 nối 2 xưởng A và C ngày 01/11/2019);
- - Hạng mục số 9: Bê tông Containơ có giá trị 37.907.600 đồng (theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình Bê tông nền Containơ ngày 01/11/2019);
- - Hạng mục số 10: Gia cố tấm đan thép có giá trị 129.241.000 đồng theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình hạng mục gia cố tấm đan thép ngày 01/11/2019;
- - Hạng mục số 11: Mái T mới và cách nhiệt có giá trị 417.834.613 đồng theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình hạng mục thole mái kiếp lock ngày 04/11/2019;
- - Hạng mục số 12: Khung đế thang máy có giá trị 335.129.820 đồng theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình hạng mục khung đế thang máy ngày 04/11/2019;
- - Hạng mục số 13: Mương trước sảnh đón có giá trị 36.912.587 đồng theo Bảng khối lượng nghiệm thu thực tế tại công trình hạng mục mương trước sảnh đón ngày 04/11/2019.
Tổng 13 hạng mục với sốp tiền là 5.093.369.597 đồng.
Từ đó, xét nguyên đơn Công ty X yêu cầu Công ty L3 trả một lần số tiền 5.093.369.597 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[2.5]. Quan điểm trình bày tranh luận của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có đủ cơ sở chấp nhận. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.
[2.6]. Quan điểm của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.
[3]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Công ty X có tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Tòa án đã chi phí cho hai lần thẩm định tại chỗ vào ngày 20/7/2023 và ngày 01/8/2023 là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Cần buộc Công ty L3 phải chịu chi phí tố tụng này. Buộc Công ty L3 có nghĩa vụ hoàn lại cho Công ty X số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
[4].Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:
Buộc bị đơn Công ty L3 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là 113.093.370 đồng sung công quỹ nhà nước. Công ty L3 chưa nộp.
H2 lại số tiền tạm ứng án phí cho Công ty TNHH X đã nộp là 61.000.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007122 ngày 31/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 21, Điều 26, Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 96, Điều 147, Điều 192, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 280, khoản 2 Điều 433, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 ; Điều 50, Điều 317, 319 Luật thương mại năm 2005.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH X đối với Công ty TNHH L3 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công ” đối với của 13 hạng mục phát sinh từ Hợp đồng thi công số 01/HĐXL-KVLA-2018 .
2. Buộc Công ty TNHH L3 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền 5.093.369.597 đồng (Năm tỷ không trăm chín mươi ba triệu ba trăm sáu mươi chín ngàn năm trăm chín mươi bảy đồng)
3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời gian chậm trả theo qui định Điều 306 luật Thương mại năm 2005.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc Công ty L3 có nghĩa vụ hoàn lại cho Công ty X số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:
Buộc Công ty TNHH L3 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là 113.093.370 đồng (Một trăm mười ba triệu không trăm chín mươi ba ngàn ba trăm bảy mươi đồng) sung công quỹ nhà nước. Công ty TNHH L3 chưa nộp.
H2 lại cho Công ty TNHH X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 61.000.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007122 ngày 31/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo xin xử phúc thẩm.
6. “Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Nguyễn Chí L – Trần Thị Đổi Nguyễn Khắc L1 Duy
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Linh Duy |
Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng thi công
- Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty K tranh chấp thi công Công ty L
