Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Kim Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Minh Hoan;

2. Ông Trần Hữu Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hòa - Thư ký TAND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/02/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 116 ngày 15/03/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Thanh N, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Khu F, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Chị Mai Thị T, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Khu F, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Anh N và chị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

I. Nguyên đơn anh Phạm Thanh N trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng anh tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ ngày 20/12/1998 theo quy định của Pháp luật. Thời gian đầu, vợ chồng anh chung sống hòa hợp, hạnh phúc. Sau đó, cuộc sống chung bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên ngăn nhưng hai vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung lâm vào tình trạng trầm trọng. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay không còn quan tâm gì tới nhau nữa. Hiện nay anh nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên anh làm đơn đề nghị tòa án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn.
  2. Về con chung: vợ chồng anh có 02 con chung:

    Phạm Thành L, Sinh năm: 1999 (Đã mất do tai nạn giao thông)

    Phạm Văn M, Sinh năm: 2005. Cháu M đã trên 18 tuổi, đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, không còn phụ thuộc vào bố mẹ nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Về tài sản chung:

    Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh có 02 mảnh đất thổ cư: một mảnh có nhà xây kiên cố 02 tầng tại khu I xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ và mảnh còn lại có nhà xây cấp 4 (đã cũ) tại Khu F xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ Ngoài ra, còn có một số tài sản chung khác đang sử dụng trong nhà. Tài sản chung nêu trên bao gồm:

    • 3.1 Thửa đất số: 320; Tờ bản đồ số: 21; Diện tích: 249,9 m² (Bằng chữ: Hai trăm bốn mươi chín phẩy chín mét vuông). Địa chỉ tại: Khu I, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH – 00932 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 17/04/2017.
    • 3.2 Thửa đất số: 226; Tờ bản đồ số: 02; Diện tích: 786m² (Bằng chữ: Bảy trăm tám mươi sáu mét vuông). Địa chỉ tại: Khu F, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH – 00581 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 23/06/2014.
    • 3.3 Tài sản khác gồm: 01 bộ bàn ghế; 02 cái giường; 01 cái quạt trần; 01 án gian bàn thờ; 02 bình nóng lạnh; 01 tủ quần áo; 01 xe máy Air Blade; 01 máy giặt; 01 tủ lạnh; 01 kệ tivi.
  4. Về vay nợ và các nghĩa vụ tài chính khác

    Vợ chồng anh có vay anh chị em trong gia đình số tiền: 395.000.000 VND (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng) để làm nhà, hiện vẫn chưa trả.

    Về tài sản chung và công nợ vợ chồng anh tự thỏa thuận nếu không thỏa thuận được vợ chồng anh yêu cầu tòa án xem xét giải quyết bằng một vụ án khác sau khi ly hôn.

II. Phía bị đơn chị Mai Thị T:

Chị Mai Thị Thanh vắng m tại các buổi làm việc và khi xét xử nhưng có trình bày ý kiến của mình trong đơn đề nghị như sau:

Vợ chồng chị tìm hiểu nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và được U làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 20/12/1998 theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã có 02 con chung là Phạm Thành L sinh năm 1999 (Cháu đã chết do tai nạn giao thông năm 2016); Phạm Văn M, sinh năm 2005. chồng chị thuê luật sư làm thủ tục ly hôn chị tại Toà án Nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, do chị không thường xuyên có mặt tại nhà nên chị xin trình bày quan điểm của mình để quý Toà được biết:

  1. Về tính chất công việc, do chị đi làm xa nhà ít về nên phần nào đã ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng nhưng chị không muốn ly hôn vì lý do con chị đã lớn. Nếu chồng chị vẫn quyết tâm ly hôn thì đó là quyền cá nhân chị không can thiệp.
  2. Về con chung cháu Phạm Văn M đã lớn nếu cháu M ở với ai cháu tự quyết định.
  3. Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng chị có 02 mảnh đất thổ cư: một mảnh ở tại khu I xã Q, trên đất có nhà xây kiên cố 02 tầng và mảnh thứ 2 ở tại khu F xã Q, trên đất có nhà xây cấp 4 (Đã cũ).

    Đây là tài sản chung của vợ chồng chị là mồ hôi công sức và tiền bạc của chung vợ chồng xây đắp, vậy nên khi chưa có ý kiến của chị, số tài sản trên chồng chị không được tự ý quyết định, giải quyết.

  4. Về công nợ: Vợ chồng chị còn nợ tiền khi làm nhà có vay anh chị em trong gia đình số tiền là: 395.000.000 đồng. (Ba trăm chín mươi lăm trệu đồng) Số nợ trên vợ chồng chị tự thoả thuận, thống nhất với nhau, không yêu cầu Toà giải quyết.

III. Tại biên bản xác minh ngày 11/4/2024 đối với ông Lê Thế V trưởng khu 6 xã Q cung cấp như sau: Anh Phan Thanh N1 và chị Mai Thị T1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 20/12/1998 tại UBND xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn anh N1 và chị T cùng nhau về chung sống tại khu F, xã Q, huyện T và có hộ khẩu thường trú tại khu F, xã Q, huyện T. Trong quát trình chung sống chị T thường xuyên đi làm ăn xa ít khi về nhà nên tình cảm vợ chồng có rạn nứt. Hai bên đã sống ly thân. Nay anh N1 có đơn xin ly hôn thì địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Anh N1 và chị T có 02 con chung là cháu Phạm Thanh L1 (đã mất năm 2016 do tai nạn giao thông) và Phạm Văn M, sinh năm 2005.

Về tài sản chung: Địa phương được biết vợ chồng anh N1, chị T có 02 mảnh đất. Một tại khu I, xã Q, huyện T trên đất có 01 nhà hai tầng và 01 mảnh đất tại khu F, xã Q, huyện T trên đất có 01 nhà cấp 4. Còn bìa đỏ đứng tên ai thì địa phương không nắm được.

Đối với các tài sản khác hay công nợ của anh N1, chị T địa phương không nắm được.

Tại phiên toà hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng cũng như việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Thanh N với chị Mai Thị T.
  2. Về con chung: Đã trưởng thành các đương sự không đề nghị nên không đặt ra giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh N và chị T có tài sản chung, nhưng không đề nghị giải quyết.
  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Phạm Thanh N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do đương sự cung cấp và được thẩm tra công khai tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    • [1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Phạm Thanh N khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa anh và chị Mai Thị T là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
    • [1.2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn cư trú tại khu F, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Tam Nông thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định của pháp luật.
    • [1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn anh Phạm Thanh N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Mai Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị T và anh N.
  2. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
    • [2.1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Thanh N và chị Mai Thị T là hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn kéo dài do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi chửi nhau nguyên nhân do chị T thường xuyên đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay không còn quan tâm gì tới nhau nữa. Mặc dù trong vụ án này quan điểm của chị T là muốn vợ chồng đoàn tụ để không ảnh hưởng đến con chung, tuy nhiên việc chị T xin đoàn tụ là không thành ý vì nhiều lần tòa án tổ chức hòa giải giữa chị T và anh N, chị T đã nhận được thông báo của tòa án nhưng không có mặt. Vợ chồng anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, anh N đã làm đơn đề nghị tòa án giải quyết ly hôn chị T biết nhưng cũng không có động thái tích cực gì để cải thiện cuộc sống vợ chồng mong muốn đoàn tụ như chị T trình bày. Xét thấy cuộc sống chung của anh N và chị T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho anh N được ly hôn với chị T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
    • [2.2] Về con chung: Anh N và chị T có 01 con chung: Phạm Văn M, sinh ngày 26/10/2005. Do con chung đã trưởng thành nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
    • [2.3] Về tài sản chung, công nợ chung; công đóng góp gia đình: Anh N xác định có tài sản chung và công nợ chung nhưng vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
    • [2.4] Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Thanh N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Thanh N được ly hôn với chị Mai Thị T.
  2. Về con chung: Do con chung đã trưởng thành các đương sự không đề nghị, nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh N và chị T có tài sản chung, nhưng không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Phạm Thanh N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận anh Phạm Thanh N đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số BLTU/2023/0003318 ngày 23/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Thanh N và chị Mai Thị Thanh v mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho anh N, chị T hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhân:

  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Quang Húc;
  • - Lưu HS - VP.

TM. Hội đồng xét xử

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa

Phùng Thị Kim Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: gaiir quyết ly hôn, con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger