Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI LĂNG

TỈNH QUẢNG TRỊ


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 04/2024/HNGĐ - ST

Ngày 15/5/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con,

chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khánh

Các Hội thẩm nhân dân.

  • - Ông: Đào Văn Trẩm

  • - Bà: Trương Thị Kim Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Chấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 96/2023/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn" và Thụ lý bổ sung vụ án số 96a/2023/TLST-DS ngày ngày 17/11/2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/4/2024 và Thông báo hoãn phiên tòa số 03/TB-TA, ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị L là bà Hoàng Thị H; địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 23/10/2023), có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị L là ông Trương Quang T - Luật sư công ty TNHH MTV T2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q, có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đ (Nguyễn Đ1), sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Đ là ông Nguyễn Đại B, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (Văn bản ủy quyền ngày 25/3/2024), vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ngân hàng N (A); địa chỉ: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Thanh G – Trưởng phòng khách hàng thuộc A chi nhánh H2 (Văn bản ủy quyền ngày 24/10/2023) có mặt.

  • - Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1998, anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ghi ngày 15/9/2023, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị vào ngày 01/4/1998. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, hai bên đã cố gắng khắc phục nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị L xác định không còn tình cảm với anh Đ nên yêu cầu được ly hôn.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung gồm: Nguyễn Văn Q, sinh ngày 01/4/1998; Nguyễn Văn H1, sinh ngày 18/9/2002 và Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 08/11/2007. Cháu Q và cháu H1 đã thành niên và có khả năng lao động nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ý và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng.

Về tài sản chung: Thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08, diện tích 889m² tại thôn K, xã H, huyện H và công trình gắn liền với thửa đất này gồm 01 ngôi nhà 03 gian, 01 ngôi nhà gác lững, 04 nhà kho cùng hệ thống tường rào bao quanh.

Chị L có nguyện vọng về chia tài sản như sau: Đối với đất được cấp cho hộ gia đình nên chia cho các thành viên trong hộ gia đình; đối với nhà và công trình khác là tài sản chung của vợ chồng nên chia đôi.

Về nợ chung: Hiện nay, vợ chồng nợ Ngân hàng N – Chi nhánh huyện H2 số tiền 800.000.000đồng và tiền lãi phát sinh trên số tiền gốc này. Chị L có nguyện vọng mỗi người trả một nữa. Trường hợp anh Đ muốn sử dụng đất và sở hữu nhà thì anh Đ phải trả hết nợ Ngân hàng và bù chênh lệch chia tài sản cho chị L 500.000.000đồng.

- Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, anh Nguyễn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Việc đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như chị L trình bày là đúng. Anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cũng đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung gồm, Nguyễn Văn Q, sinh ngày 01/4/1998; Nguyễn Văn H1, sinh ngày 18/9/2002 và Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 08/11/2007.

Cháu Q và cháu H1 đã thành niên và có khả năng lao động nên ở với ai là tùy các cháu. Anh Đ có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Như Ý và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, nếu cháu Ý có nguyện vọng được ở với chị L thì anh tôn trọng nguyện vọng của cháu và anh cấp dưỡng nuôi cháu Ý mỗi tháng 3.000.000đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Hiện nay, vợ chồng còn nợ Ngân hàng số tiền như chị L trình bày; đất là của bố mẹ anh Đ để lại cho vợ chồng, còn nhà và công trình khác là do vợ chồng xây dựng nên, anh Đ có nguyện vọng sẽ trả hết số tiền nợ Ngân hàng, anh Đ được sử dụng toàn bộ diện tích đất, sở hữu toàn bộ nhà và bù chênh lệch chia tài sản cho chị L 250.000.000đồng.

- Ngân hàng N (A) trình bày: Ngày 02/6/2023, anh Đ ủy quyền cho chị L ký kết hợp đồng hạn mức tín dụng với Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện N với hạn mức tín dụng được cấp là 800.000.000đồng. Sau khi kết hợp đồng, ngày 02/6/2023, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 400.000.000đồng, ngày 12/6/2023 Ngân hàng tiếp tục giải ngân số tiền 400.000.000đồng. Tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08, địa chỉ thửa đất tại thôn K, xã H, huyện H và toàn bộ công trình xây dựng trên đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 170121 do UBND huyện H cấp ngày 30/11/2006 cho hộ ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L. Hiện nay, khoản vay đã quá hạn, tính đến ngày 15/5/2024, chị L và anh Đ còn nợ Ngân hàng 800.000.000 đồng tiền gốc và 93.608.219đồng tiền lãi. Ngân hàng yêu cầu chị L và anh Đ phải trả hết số tiền nói trên cho Ngân hàng, trường hợp chị L, anh Đ không trả được nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.

- Anh Nguyễn Văn Q và anh Nguyễn Văn H1 trình bày: Thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08 tại thôn K, xã H, huyện H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 170121 do UBND huyện H cấp ngày 30/11/2006 cho hộ gia đình nên anh Q và anh H1 cũng có quyền sử dụng trong đó và 02 anh đã ủy quyền cho chị L quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất này nên ý kiến của chị L xem như là ý kiến của các anh.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Về mặt pháp lý thì hiện nay thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08 tại thôn K, xã H, huyện H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 170121 do UBND huyện H cấp ngày 30/11/2006 cho hộ gia đình ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L nên việc chị L yêu cầu Tòa án chia quyền sử dụng đối với thửa đất này là đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay quyền sử dụng đất đang được thế chấp lại Ngân hàng. Mặt khác, đang có tranh chấp với bên thứ 3, trong khi đó, việc ly hôn và nuôi con đã được các bên thỏa thuận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tách phần “Chia tài sản chung và trả nợ chung” để giải quyết bằng một vụ án khác nhằm bảo vệ quyền lợi cho chị L trong việc yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có ý kiến: Việc Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 170121 cho hộ ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L tại thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08 tại thôn K, xã H, huyện H là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc bà Nguyễn Thị Đ2 yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

  • Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 28, 35, 39, 97, 177, 195, 196, 203, 208, 220, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72 và 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án:

  • + Về quan hệ hôn nhân và nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 55, khoản 1 Điều 56, 59, 62, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự, công nhận sự thỏa thuận về việc ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Độ .

  • + Về chia tài sản chung và trả nợ chung: Vì tài sản là quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng. Mặt khác, tài sản đang có tranh chấp với bên thứ 3, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tách phần “Chia tài sản chung, trả nợ chung” để giải quyết bằng một vụ án khác.

  • - Về án phí và chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đ phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, người trực tiếp nuôi con và chia tài sản chung của vợ chồng. Trong khi đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu anh Đ, chị L trả nợ vay; bị đơn cư trú tại thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị và vụ án không có yếu tố nước ngoài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.

[2]. Về tư cách tham gia tố tụng:

- Chị Nguyễn Thị L là người khởi kiện, anh Nguyễn Đ là người bị kiện nên xác định chị L là nguyên đơn, anh Đ là bị đơn. Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ngân hàng N, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn H1 không phải là người khởi kiện, không phải là người bị kiện, tuy nhiên, việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người này nên xác định những người này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ vào khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với chị Nguyễn Thị Như Ý, tại thông báo thụ lý vụ án, Tòa án xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án thấy rằng, thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08 tại thôn K, xã H, huyện H được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 170121 ngày 30/11/2006 cho hộ ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L, trong khi đó, chị Nguyễn Thị Như Ý sinh ngày 08/11/2007 nên chị Ý không có quyền sử dụng đối với thửa đất này. Do đó, Hội đồng xét xử đưa chị Nguyễn Thị Như Ý ra khỏi phạm vi tố tụng trong vụ án này.

[3]. Về quan hệ hôn nhân:

Qua xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 01/4/1998 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Tại biên bản xác minh ngày 18/10/2023, Hội liên hiệp phụ nữ xã H, huyện H cung cấp thông tin: Quá trình chung sống, chị L và anh Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng sinh sống mỗi người một nơi, nếu chị L yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Trong các phiên hòa giải và tại phiên tòa, cả chị L và anh Đ đều có nguyện vọng được ly hôn. Thấy rằng, việc thuận tình ly hôn của chị L và anh Đ là tự nguyện và đúng với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần công nhận sự thỏa thuận của các bên.

[4]. Về nuôi con chung: Chị L và anh Đ có 03 con chung gồm: Nguyễn Văn Q, sinh ngày 01/4/1998; Nguyễn Văn H1, sinh ngày 18/9/2002 và Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 08/11/2007.

Cháu H1 và cháu Q đã thành niên và có khả năng lao động, chị L và anh Đ đều không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng cháu H1 và cháu Q nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 08/11/2007, quá trình giải quyết vụ án, cháu Ý có nguyện vọng được ở với chị L, chị L cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ý và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng; anh Đ cũng đồng ý với ý kiến của chị L. Xét thấy, việc thỏa thuận của chị L và anh Đ về việc nuôi con là đúng với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần công nhận sự thỏa thuận này.

[5]. Về việc yêu cầu chia tài sản chung và trả nợ chung:

Thấy rằng, thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08, diện tích 889m² tại thôn K, xã H, huyện H và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà 03 gian, 01 ngôi nhà gác lững, 04 nhà kho cùng hệ thống tường rào bao quanh, quá trình làm ăn, chị L, anh Đ và các thành viên trong hộ gia đình đã thế chấp khối tài sản này để vay vốn tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện H2, tính đến ngày 13/9/2023 khoản vay đã quá hạn. Tính đến ngày 15/5/2024 chị L, anh Đ còn nợ Ngân hàng 800.000.000đồng tiền gốc và 93.608.219đồng tiền lãi. Ngân hàng yêu cầu chị L và anh Đ phải trả số tiền nói trên, trường hợp chị L và anh Đ không trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Mặt khác, sau khi Tòa án ban hành đưa vụ án ra xét xử thì ngày 14/5/2024, bà Nguyễn Thị Đ2 là chị của anh Đ có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 170121 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 30/12/2006 cho hộ ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L vì cho rằng: Quyền sử dụng đất này là di sản thừa kế của ông Nguyễn T1 là bố của bà Đ2 và anh Đ để lại nhưng anh Đ tự ý làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn T1 qua hộ gia đình ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị L là trái với quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Nguyễn Thị Đ2 có đơn yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Mặt khác, quyền sử dụng đất đang được thế chấp tại ngân hàng, việc xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đòi hỏi phải có thời gian và theo trình tự thủ tục tố tụng hành chính và việc chia tài sản chung chỉ được giải quyết khi việc xem xét tính hợp pháp của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có kết quả. Trong khi đó, quan hệ hôn nhân và việc nuôi con chung giữa chị L và anh Đ đã thỏa thuận được với nhau và hai mối quan hệ này độc lập với việc yêu cầu chia tài sản chung, giải quyết nợ chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Đ2. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần tách việc chia tài sản chung, giải quyết nợ chung thành một vụ án khác để giải quyết sau nhằm đảm bảo quyền lợi về quan hệ hôn nhân và nuôi con của các đương sự.

[6]. Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị L đã tạm nộp 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng), số tiền này sẽ xử lý khi giải quyết vụ án “Chia tài sản chung, trả nợ chung”.

[7]. Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị L thỏa thuận chịu 150.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, thấy rằng, việc chị L thỏa thuận chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là đúng với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

- Anh Nguyễn Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, 59, 62, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 42, 147, 235, 246, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với nội dung như sau:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đ (Nguyễn Đ1).

1.2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 08/11/2007. Anh Nguyễn Đ (Nguyễn Đ1) cấp dưỡng nuôi cháu Ý mỗi tháng 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) kể từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu Ý thành niên và có khả năng lao động.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Đ (Nguyễn Đ1) vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Tách việc yêu cầu “Chia tài sản chung, trả nợ chung” thành một vụ án khác để giải quyết riêng. Vụ án sau khi tách được xác định như sau:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.

  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Đ, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Ngân hàng N (A); địa chỉ: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

    • + Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1998; anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.

4. Về án phí và chi phí tố tụng:

4.1. Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị L chịu 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 21.700.000đồng (Hai mươi mốt triệu, bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số CC/2021/0000418 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Lăng. Số tiền tạm ứng án phí còn lại sẽ được xử lý trong vụ án “Chia tài sản chung, trả nợ chung”.

- Anh Nguyễn Đ (Nguyễn Đ1) phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

- Về số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do Ngân hàng N (A)- Chi nhánh huyện H2 đã nộp là 18.430.000đồng (Mười tám triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/2023/0000418 ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Lăng sẽ được xử lý trong vụ án “Chia tài sản chung, trả nợ chung”.

4.2. Về chi phí tố tụng: Số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) chị Nguyễn Thị L đã tạm nộp sẽ được xử lý khi giải quyết vụ án "Chia tài sản chung, trả nợ chung".

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoàn tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo múc lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị;
  • - VKS, THADS huyện Hải Lăng;
  • - UBND xã Hải Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Thanh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ - ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ Nguyễn Thị l-Nguyễn Đ ly hôn chia tai san chung, nợ chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger