|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST Ngày 14-5-2024 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Thanh Nga;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Ka H, sinh năm 1991, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn B, xã Đ, huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
Bị đơn: ông K H1, sinh năm: 1986, nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện C, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà H có mặt; ông H1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ka H trình bày: Bà H và ông Hải đăng k kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C hai bên tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương. Trong quá trình chung sống bà và ông H1 sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, ông bà không tìm được tiếng nói chung, ông H1 thường uống rượu, đánh đập bà tình cảm vợ chồng không còn, bà và ông H1 không sống chung từ năm 2019 đến nay, bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà và ông H1 được ly hôn.
Về con chung: Bà H trình bày, bà và ông H1 có 03 con chung tên Ka Thị H2, sinh ngày 28/01/2009, Ka Thị Y, sinh ngày 21/4/2010 và K, sinh ngày 01/3/2016. Các con hiện nay đang ở với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là cháu H3, cháu Y, cháu H4 và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông K' H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Tại biên bản xác minh ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên tại Công an xã Đ, huyện C thể hiện: Ông K' H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã Đ, huyện C, tỉnh Lâm Đồng, hiện nay ông H1 đang sinh sống tại địa phương.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng về giải quyết vụ án: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 54, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà H được ly hôn ông H1; Giao các con chung tên Ka Thị H2, sinh ngày 28/01/2009, Ka Thị Y, sinh ngày 21/4/2010 và K, sinh ngày 01/3/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con bà H không yêu cầu nên không xem xét; bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Xuất phát từ việc vợ chồng mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống hôn nhân nên bà Ka H xin ly hôn với ông K' H1; vì vậy đủ cơ sở xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
[2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông K' H1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai nhưng ông K' H1 vẫn không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông K' Hải theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Bà H và ông H1 tự nguyện sống chung và kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C đăng ký kết hôn năm 2011, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà H xin ly hôn vì lý do cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoản 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông H1 thường xuyên uống rượu, bài bạc, hay dùng bạo lực, không chăm lo cho cuộc sống chung, bà và ông H1 đã không sống chung với nhau từ năm 2019 đến nay. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 đã xảy ra, các bên không có biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn xảy ra bà H đưa các con về nhà mẹ ruột sống nhưng ông H1 không quan tâm hỏi thăm vợ, con như vậy vợ chồng không còn quan tâm đến nhau mục đích hôn nhân giữa bà H và ông H1 không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà H, cho bà H và ông H1 được ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông H1 có 3 con chung tên Ka Thị H2, sinh ngày 28/01/2009, Ka Thị Y, sinh ngày 21/4/2010 và K, sinh ngày 01/3/2016, hiện nay các con chung đang ở với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn trình bày nguyện vọng của các con được Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng xác nhận thể hiện nguyện vọng của các con muốn được ở với bà H khi bà và ông Hải lỵ h. Hội đồng xét xử xét thấy rằng để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cần giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về tài sản chung: bà H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ka H về việc ly hôn ông K' Η1.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka H được ly hôn ông K' H1.
Về con chung: Giao các con chung tên Ka Thị H2, sinh ngày 28/01/2009, Ka Thị Y, sinh ngày 21/4/2010 và K, sinh ngày 01/3/2016 cho bà Ka H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Bà Ka H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0010570 ngày 20 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hiền |
Bản án số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 04/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
