TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 04/2024/KDTM-ST Ngày: 12 - 6 - 2024 V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Thúy
- Bà Lò Thị Quỳnh
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 02/2022/TLST-KDTM, ngày 31 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-KDTM ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (viết tắt là M), địa chỉ trụ sở chính: số A L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hữu Đ - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Pháp nhân đại diện theo uỷ quyền: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Q2 và khai thác tài sản - Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (viết tắt là Công ty M1). Địa chỉ: Tầng H, số C L, phường L, quận B, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn P - Chức vụ: Tổng giám đốc (Hợp đồng ủy quyền ngày 18/03/2021). Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Quách Mạnh Q - Chức vụ: Giám đốc Vùng - Vùng miền B - Khối Quản trị rủi ro Công ty M1 (Văn bản ủy quyền ngày 28/01/2022). Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Mạnh T, ông Nguyễn Tiến D - Chuyên viên xử lý nợ Công ty M2 (Văn bản ủy quyền ngày 04/10/2022). Ông Nguyễn Tiến D vắng mặt, ông Nguyễn Mạnh T có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1. Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngày 23/9/2020, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 - Chi nhánh S và bà Nguyễn Thị H ông Trần Văn T1 đã cùng ký kết Hợp đồng cho vay số 135265.20.785.2424860.TD, nội dung cụ thể của Hợp đồng như sau: Phương thức cho vay là vay theo hạn mức tín dụng với hạn mức cho vay là 5.200.000.000đ (giá trị hạn mức cho vay trên đã bao gồm dư nợ của Khách hàng theo Hợp đồng tín dụng số 846417197852424860.TD), thời hạn của khoản vay trong hạn mức là: 12 tháng (kể từ ngày 18/9/2020); Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh nông sản; Lãi suất: Lãi suất thả nổi được quy định tại văn bản nhận nợ.
Bằng việc ký kết hợp đồng vay tiền nói trên, bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 xác nhận đồng ý chấp nhận các điều khoản và điều kiện tại “các điều khoản chung” về cho vay và thế chấp 02 tài sản để bảo đảm cho khoản vay (đã ký kết trước đó và được đáo hạn tại hợp đồng cho vay tiền này), gồm:
- Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 285k, tờ bản đồ số 71-13, có diện tích 136m², địa chỉ: C, thị xã S, tỉnh Sơn La (nay là phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U825936, số vào sổ cấp GCN: 1737.QSDĐ/số 571/QD-UB do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 07/10/2002 cho bà Nguyễn Thị H, ký kết theo Hợp đồng thế chấp số 93590.15.785.2424860.BĐ ngày 06/11/2015, số công chứng 709, quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C tỉnh Sơn La; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 06/11/2015.
- Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số: 122; diện tích 1.582,7m², địa chỉ: Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 911554, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01439 do UBND huyện S, tỉnh Sơn La cấp ngày 26/11/2010; Ngày 12/03/2019 chuyển nhượng cho ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H, ký kết theo Hợp đồng thế chấp số 846585.19.785.2424860.BĐ ngày 20/03/2019, số công chứng 356, quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C tỉnh Sơn La; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/03/2019.
Trước đó, ngày 01/4/2019, bên vay có ký hợp đồng mở thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000đ.
Sau khi ký kết hợp đồng, bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 đã được giải ngân 03 lần (vào các ngày 17/8/2021, 18/8/2021 và 19/8/2021) với tổng số tiền là 6.327.000.000₫ bằng hình thức tiền mặt. Từ thời điểm được giải ngân, ông bà Hà T2 thực hiện nghiêm túc việc trả nợ lãi và gốc, nhưng từ thời điểm ngày 17/10/2021, ông bà Hà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và không trả được khoản nợ gốc và lãi nào cho Ngân hàng, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, có vản bản thúc nợ, nhưng ông bà Hà T2 vẫn không trả nợ đúng hạn. Do đó, Ngân hàng đã làm đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông bà Hà T2 phải thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
Theo đó, tính đến ngày 04/10/2022, ông bà Hà T2 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là: 4.909.636.032đ (bốn tỷ, chín trăm linh chín triệu, sáu trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm ba mươi hai đồng), trong đó: nợ gốc theo hợp đồng là 4.377.000.000đ, nợ lãi quá hạn là: 462.839.056đ, nợ thẻ tín dụng là: 69.796.976₫.
Đề nghị ông bà Hà T2 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số 135265.20.785.2424860.TD ngày 23/9/2020 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Nếu ông bà Hà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông bà Hà T2 theo Hợp đồng thế chấp số 93590.15.785.2424860.BĐ ngày 06/11/2015 và Hợp đồng thế chấp số 846585.19.785.2424860.BĐ ngày 20/03/2019 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Tòa bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, ông bà Hà T2 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 trình bày:
Nhất trí với nội dung khởi kiện của nguyên đơn về việc ông bà Hà T2 có được ký Hợp đồng cho vay số 135265.20.785.2424860.TD ngày 23/9/2020 với Ngân hàng TMCP Q1 và khẳng định số tiền vay gốc hiện nay ông bà còn nợ Ngân hàng là 4.377.000.000đ và lãi phát sinh, để bảo đảm cho Hợp đồng vay nợ trên, ông bà đã thế chấp 02 tài sản thuộc quyền sở hữu của ông bà là:
- + Đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 285k, tờ bản đồ số 71-13, có diện tích 136m², địa chỉ: C, thị xã S, tỉnh Sơn La (nay là phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La);
- + Đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số: 122; diện tích 1.582,7m², địa chỉ: Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La.
Ông bà nhất trí sẽ trả toàn bộ khoản nợ trên cho Ngân hàng, nhưng do tình hình kinh tế khó khăn nên đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông bà trả nợ dần.
Quá trình giải quyết vụ án, hai bên không thỏa thuận được với nhau về phương thức và thời gian trả nợ.
Ngày 06/9/2023, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số: 122; diện tích 1.582,7m², địa chỉ: Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; ngày 18/03/2024, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 285k, tờ bản đồ số 71-13, có diện tích 136m², địa chỉ: C, thị xã S, tỉnh Sơn La (nay là phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La). Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, bị đơn ông bà H đều vắng mặt không có lý do.
Ngày 31/5/2024, Ngân hàng có đơn yêu cầu về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc là 1.1.000.000đ và tài sản bảo đảm của khoản tiền này, do Ngân hàng đã giải chấp tài sản thế chấp với bên thứ ba là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 285k, tờ bản đồ số 71-13, có diện tích 136m², địa chỉ: C, thị xã S, tỉnh Sơn La (nay là phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U825936, số vào sổ cấp GCN: 1737.QSDĐ/số 571/QD-UB do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 07/10/2002 cho bà Nguyễn Thị H.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị Tòa án buộc ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H phải thanh toán số tiền dư nợ của thẻ tín dụng là 69.796.976đ. Đề nghị Tòa án buộc ông bà Hà T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng cho vay đã ký toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm, ngày 12/6/2024 (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) là: 4.637.055.091đ (bốn tỷ, sáu trăm ba mươi bảy triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng), trong đó, dư nợ gốc là: 3.277.000.000đ (ba tỷ, hai trăm bảy mươi bảy triệu đồng), nợ lãi quá hạn là 1.360.055.091đ (một tỷ, bao trăm sáu mươi triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La phát biểu ý kiến:
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án; thực hiện thu thập và giao nhận, công khai chứng cứ đầy đủ, đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về các nguyên tắc xét xử, thành phần, trình tự thủ tục xét xử sơ thẩm.
- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, 228, 244, 271 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 117, 119, 292, 303, 307, 319, 320, 351, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- + Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) về việc đề nghị Tòa án buộc ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H phải trả nợ (tính đến ngày 12/6/2024) đối với số tiền nợ gốc là: 1.100.000.000đ (một tỷ, một trăm triệu đồng) và dư nợ thẻ tín dụng là: 69.796.976đ (sáu mươi chín triệu, bảy trăm chín mươi sáu nghìn, chín trăm bảy mươi sáu đồng).
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ nợ gốc và nợ lãi tính đến xét xử sơ thẩm (ngày 12/6/2024) là: 4.637.055.091đ (bốn tỷ, sáu trăm ba mươi bảy triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng), trong đó, nợ gốc là: 3.277.000.000đ (ba tỷ, hai trăm bảy mươi bảy triệu đồng), nợ lãi quá hạn là 1.360.055.091đ (một tỷ, bao trăm sáu mươi triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng).
Trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp thuộc sở hữu của bị đơn. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi hết nợ.
Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
Những yêu cầu, kiến nghị khác: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (Ngân hàng M) với bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1, bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
[2] Về sự có mặt của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn đến làm việc, cụ thể là để lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 15/8/2023, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông Trần Văn T1 vắng mặt, bà Nguyễn Thị H có mặt nhưng không ký vào biên bản, Tòa án đã tiến hành lập biên bản về việc bà Nguyễn Thị H không ký vào biên bản. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 30/11/2023. Tòa án ra Quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất, ra Quyết định tạm đình chỉ theo yêu cầu của nguyên đơn, Thông báo tiếp tục mở phiên tòa và ấn định xét xử ngày 07/5/2024, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa. Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa và ấn định lại thời gian xét xử lần 3 vào ngày 22/5/2024, bị đơn có đơn xin hoãn phiên tòa nên Tòa án tiếp tục hoãn phiên tòa và sau đó tiếp tục triệu tập bị đơn 2 lần tiếp theo nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Bởi các lẽ trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H.
[3] Về phạm vi khởi kiện:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2022, Ngân hàng TMCP Q1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là: 4.909.636.032đ (bốn tỷ, chín trăm linh chín triệu, sáu trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm ba mươi hai đồng), trong đó: Số tiền nợ gốc theo hợp đồng là 4.377.000.000đ, nợ lãi quá hạn là: 462.839.056đ (tạm tính đến ngày 01/10/2022), nợ thẻ tín dụng là: 69.796.976đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền gốc là 1.100.000.000đ. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với thẻ tín dụng là 69.796.976đ, chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết việc buộc bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi (tính đến ngày 12/6/2024) là: 4.637.055.091đ (bốn tỷ, sáu trăm ba mươi bảy triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng) theo hợp đồng cho vay số 135265.20.785.2424860.TD đã ký, trong đó, nợ gốc là: 3.277.000.000đ (ba tỷ, hai trăm bảy mươi bảy triệu đồng), nợ lãi quá hạn là 1.360.055.091đ (một tỷ, bao trăm sáu mươi triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng).
Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với yêu cầu này.
[4] Về tính hiệu lực của hợp đồng:
Ngày 23/9/2020, bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 và Ngân hàng TMCP Q1 (M) đã cùng ký kết hợp đồng cho vay số 135265.20.785.2424860.TD về việc cấp hạn mức vay vốn cho bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 với số tiền 5.200.000.000₫ (giá trị hạn mức cho vay trên đã bao gồm dư nợ của Khách hàng theo Hợp đồng tín dụng số 846417197852424860.TD), thời hạn của khoản vay trong hạn mức là: 12 tháng (kể từ ngày 18/9/2020); Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh nông sản; Lãi suất: Lãi suất thả nổi được quy định tại văn bản nhận nợ. Trên cơ sở Hợp đồng cho vay này, hai bên tiến hành ký kết 02 hợp đồng thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1, trên cơ sở đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, Ngân hàng tiến hành giải ngân cho bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 tổng số tiền là 6.327.000.000đ bằng hình thức tiền mặt. Tại bản tự khai, ông bà Hà T2 đều thừa nhận có khoản vay trên và nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, đây là tình tiết, chứng cứ không phải chứng minh.
Như vậy, việc các bên xác lập quan hệ vay tài sản trên là hoàn toàn tự nguyện, dựa trên ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng, không bên nào bị lừa dối, giả tạo và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Nội dung của hợp đồng ghi nhận sư thỏa thuận của các bên về mục đích, nội dung và hình thức được quy định tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 và Điều 463 Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, do đó, các hợp đồng trên đều có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Căn cứ vào các điều khoản trong hợp đồng đã ký và sao kê dư nợ của bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1, thấy rằng ông bà đã vi phạm thỏa thuận về thời hạn trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng, do đó Ngân hàng chuyển khoản vay sang nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ khoản nợ, tính đến thời điểm ngày 12/6/2024, bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 4.637.055.091đ (bốn tỷ, sáu trăm ba mươi bảy triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng) theo hợp đồng cho vay số 135265.20.785.2424860.TD đã ký, trong đó, nợ gốc là: 3.277.000.000đ (ba tỷ, hai trăm bảy mươi bảy triệu đồng), nợ lãi quá hạn là 1.360.055.091đ (một tỷ, bao trăm sáu mươi triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng) là có căn cứ cần được chấp nhận toàn bộ.
[5] Về xử lý tài sản bao đảm:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng cho vay tiền và trong trường hợp bị đơn không trả được nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký.
Đối với 02 Hợp đồng thế chấp tài sản số 93590.15.785.2424860.BĐ ngày 06/11/2015 và Hợp đồng thế chấp số 846585.19.785.2424860.BĐ ngày 20/03/2019, Ngân hàng đã ký với bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 được các bên tự nguyện ký kết, các hợp đồng trên đều được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, phù hợp với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Ngày 28/5/2024, Ngân hàng đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 285k, tờ bản đồ số 71-13, có diện tích 136m², địa chỉ: C, thị xã S, tỉnh Sơn La (nay là phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La) được ký kết theo Hợp đồng thế chấp số 93590.15.785.2424860.BĐ ngày 06/11/2015.
Do đó, trường hợp bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp là: thửa đất số 78, tờ bản đồ số: 122; diện tích 1.582,7m², địa chỉ: Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La, ký kết theo Hợp đồng thế chấp số 846585.19.785.2424860.BĐ ngày 20/03/2019 là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng cho vay và phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp số tiền thu được từ phát mại tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đến khi hết nợ.
Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đúng thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng cho vay đã ký giữa các bên, phù hợp quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự và Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ là 20.736.000đ (hai mươi triệu, bảy trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Do phía nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này, nên cần buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng chi phí nói trên.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 165, 166, 227, 228, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 117, 119, 292, 303, 307, 351, 357, 388, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) về việc đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 trả nợ số tiền nợ tại thẻ tín dụng là: 69.796.976đ với số tiền vay nợ gốc là 1.100.000.000đ (một tỷ, một trăm triệu đồng) và quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm đối với thửa đất số 285k, tờ bản đồ số 71-13, có diện tích 136m², địa chỉ: C, thị xã S, tỉnh Sơn La (nay là phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La) được ký kết theo Hợp đồng thế chấp số 93590.15.785.2424860.BĐ ngày 06/11/2015.
2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M): Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ (tính đến ngày 12/6/2024) là: 4.637.055.091đ (bốn tỷ, sáu trăm ba mươi bảy triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng) trong đó, nợ gốc là: 3.277.000.000đ (ba tỷ, hai trăm bảy mươi bảy triệu đồng), nợ lãi quá hạn là 1.360.055.091đ (một tỷ, ba trăm sáu mươi triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi mốt đồng)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong số tiền trên, bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số 135265.20.785.2424860.TD ngày 23/9/2020 cho đến khi thanh toán nợ xong.
Trường hợp bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 846585.19.785.2424860.BĐ ngày 20/03/2019 là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số: 122; diện tích 1.582,7m², địa chỉ: Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 911554 mang tên ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H, để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) cho đến khi hết nợ.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ là 20.736.000đ (hai mươi triệu, bảy trăm ba mươi sáu nghìn đồng)
4. Về án phí:
Bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T1 phải chịu 112.637.000đ (một trăm mười hai triệu, sáu trăm ba mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch.
Trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 số tiền 56.450.000đ (năm mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0002502 ngày 31/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Thị Mai Hương |
Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
