|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 04/2023/DS-PT Ngày: 12 - 01 - 2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Bà Từ Thị Hải Dương và bà Hoàng Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 64/2023/TLPT-DS ngày 03/10/2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4931/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đinh Minh P, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị Kim T:
Luật sư Hồ Lý H - Văn phòng Luật sư Hồ Lý H; địa chỉ: thôn K, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bị đơn: Ông Trần Nam L, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Chị Trần Thị Thu H1, sinh năm 1995; địa chỉ: TDP F, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình.
- Bà Đinh Thị H2; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Địa chỉ: thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
1
Người kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Kim T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án và bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Minh Hoá thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Đinh Minh P trình bày: Gia đình ông P được hợp tác xã H3 giao đất để trồng cây theo văn bản ngày 11/10/1988, sau khi được hợp tác xã H3 giao đất gia đình ông tiếp tục bảo vệ và trồng cây từ đó cho đến nay. Hiện nay một phần diện tích đất trong hợp đồng giao đất đã bị ông Trần Nam L xây dựng nhà ở, còn một phần thửa đất số 337, tờ bản đồ số 24, diện tích 105 m² gia đình ông P đang tiếp tục trồng cây thì ông Trần Nam L ngăn cản và muốn chiếm dụng. Nay ông khởi kiện ra TAND huyện Minh Hóa, buộc ông Trần Nam L phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho ông P, tháo dỡ nhà và các công trình khác trên thửa đất số 337, tờ bản đồ số 24, có diện tích 105m².
Bị đơn ông Trần Nam L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị H2 thống nhất trình bày: Thửa đất ông Đinh Minh P yêu cầu giải quyết tranh chấp đất là của gia đình ông chủ sử dụng, được thể hiện tại bản đồ địa chính thị trấn Q, thửa đất số 337, tờ bản đồ số 24, diện tích 105 m². Thửa đất này được tách ra từ thửa số 05, tờ bản đồ địa chính số 27, thị trấn Q năm 2003 chủ hộ Trần Nam L. Gia đình ông sử dụng thửa đất trên từ năm 1993 đến nay hơn 30 năm, nộp thuế đầy đủ. Hiện nay thửa đất số 339, tờ bản đồ số 27 gia đình ông xây dựng nhà kiên cố, thửa số 337, tờ bản đồ số 24 gia đình ông làm nhà kho và G để xe. Thửa đất của gia đình ông trước đây nằm trong khuôn viên vườn trồng cây của Hợp tác xã H3 giao cho ông P quản lý, nên ông P đòi gia đình ông trả lại. Tuy nhiên, ông P không phản đối và tranh chấp lúc ông mới bắt đầu sử dụng đất, làm nhà gỗ và vườn tược năm 1993, chuyển nhượng một phần đất cho ông Phan T1 năm 2004, xây nhà kiên cố năm 2012, lúc cơ quan có thẩm quyền lập sổ địa chính năm 2003 và năm 2009. Tại bản đồ địa chính thị trấn Q năm 2003 là thửa đất số 5, tờ bản đồ số 27, tại bản đồ năm 2009 là thửa số 337, 339, tờ bản đồ số 24 đều đứng tên chủ sử dụng là ông, nhưng ông P cũng không có ý kiến gì với cơ quan có thẩm quyền. Đến nay giá đất lên cao ông P mới tranh chấp hòng chiếm đoạt tài sản của gia đình ông, nên ông không chấp nhận yêu cầu trả lại diện tích đất mà ông P yêu cầu.
Biên bản xác minh tại UBND thị trấn Q ngày 14/3/2023, thể hiện: thửa đất số 05, tờ bản đồ số 27 bản đồ địa chính của thị trấn Q năm 2003 có diện tích 550m² quy chủ hồ sơ địa chính mang tên ông Trần Nam L. Năm 2011, thửa đất số 05 tách ra thành 03 thửa đất gồm các thửa đất 337, 338, 339, tờ bản đồ số 24 bản đồ địa chính thị trấn Q, thửa đất số 337 và 339 quy chủ ông Trần Nam L, còn thửa đất số 338 quy chủ ông Phan T1 (ông L chuyển nhượng đất cho ông T1, Văn phòng đăng ký đất đai đã cung cấp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L và ông T1).
Biên bản xác minh tại chi cục thuế T3 ngày 25/7/2023, thể hiện: ông Trần Nam L có nộp thuế đất tại chi cục thuế T3 vào năm 2005 đến 2008, trong biên lai không ghi rõ thửa đất và tờ bản đồ nhưng biên lại này thu thuế đất ở.
2
Biên bản xác minh tại UBND thị trấn Q ngày 25/7/2023, thể hiện: năm 2003, ông Trần Nam L có 01 thửa đất số 05, diện tích 550m², tờ bản đồ số 27 của thị trấn Q. Mục đích sử dụng: đất ở, vị trí thửa đất: tiểu khu I, thị trấn Q, M, Quảng Bình (nay là tổ dân phố G, thị trấn Q, M, Quảng Bình).
Tại biên bản lấy lời khai của ông Đinh Văn P1 (nguyên là chủ nhiệm Hợp tác xã H3 năm 1999 đến năm 2001): ông không biết việc Hợp tác xã H3 giao đất cho ông P vào năm 1988. Năm 2001, Hợp tác xã H3 đã dừng hoạt động.
Những người làm chứng do nguyên đơn cung cấp: Ông Trần Bá L1 (nguyên là chủ nhiệm hợp tác xã H3 năm 1988), ông Đinh Xuân P2 (nguyên là phó chủ nhiệm hợp tác xã H3 năm 1988): nội dung của biên bản bàn giao vườn cây Hợp tác xã ngày 11/10/1988 là giao vườn cây cho ông Đinh Minh P sử dụng, khai thác và trả lại phần trăm lợi tức cho Hợp tác xã H3.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hoá đã quyết định: Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 157, 165, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 13, 48 của Luật đất đai năm 1987; Căn cứ Điều 46, 47, 107 của Luật đất đai năm 2003; Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Minh P về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Nam L.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 16/8/2023 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đinh Minh P có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn có đơn yêu cầu xem xét thẩm định và định giá lại tài sản. Ngày 16/11/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, kết quả:
Hiện trạng sử dụng thửa đất số 337, tờ bản đồ số 24 thị trấn Q có diện tích: 157,23m² (trong đó có 21,5m² đất thuộc hành lang an toàn giao thông) do ông Trần Nam L, bà Đinh Thị H2 đang quản lý, sử dụng có tứ cận: Phía Bắc giáp đất ông T1 có kích thước 27,38m; Phía Nam giáp đất ông T2, bà L2 có kích thước 26,23m; Phía Đông giáp đường Q (đường L), có kích thước 5,82m; Phía Tây giáp đất sản xuất nông nghiệp (ông P, bà T đang canh tác), có kích thước 6,09m (có sơ đồ bản vẻ kèm theo). Hiện trạng sử dụng đất lệch so với bản đồ địa chính.
Về tài sản trên đất có mái lợp tôn khung gỗ nền đất, che mặt trước, sau bằng tôn lạnh có diện tích 50,18 m² trị giá 14.262.600 đồng; cây trồng trên đất: 01 cây mít, trị giá 1.800.000đồng; 01 cây vú sữa, trị giá 313.000 đồng; 01 cây lội, trị giá 234.000 đồng; 02 cây Sabuche, trị giá 1.322.000đồng; 01 cây dâu da, trị giá 52.600 đồng; 03 gốc cây bạch đàn đã mục; 01 cây ổi, trị giá 5.700 đồng; 01 cây chanh, trị giá 69.300 đồng; 01 cây xoan, trị giá 52.600 đồng và 01 ngôi mộ có từ lâu (trước năm 1988). Kết quả định giá tài sản trên đất là: 18.084.860 đồng, kết quả định giá đất là 147.525.000 đồng.
3
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Kim T và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đơn kháng cáo. Thửa đất số 337, tờ bản đồ số 24, diện tích 105m² ở tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình mà hiện nay đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà, nhưng đã bị ông Trần Nam L lấn chiếm, sau đó đã xây dựng một số công trình trên đất. Nguồn gốc thửa đất này là nằm trong diện tích đất và vườn mà vợ chồng bà được Hợp tác xã H3, xã Q nay là thị trấn Q giao theo biên bản giao nhận vườn cây HTX vào ngày 11/10/1988. Trong biên bản giao của Hợp tác xã H3 đã nói rõ tứ cận tiếp giáp rất rõ ràng, vợ chồng bà được quyền dựng nhà trong vườn cây và được quyền thừa kế. Từ đó vợ chồng bà đã sử dụng cho đến nay. Tuy nhiên, lợi dụng là người thân trong gia đình ông Trần Nam L đã rào và lấn chiếm, gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Tòa án cấp sơ thẩm không tìm hiểu rõ nguồn gốc đất, chỉ dựa vào biên lai nộp thuế sử dụng đất của ông L là không có căn cứ, vì biên lai không chứng minh rõ thửa đất và nguồn gốc đất, trong khi đó ông L còn có thửa đất khác. Trên đất này vợ chồng bà đã trồng cây có khai thác, hiện nay vẫn còn nhưng cấp sơ thẩm nói rằng không có chứng cứ. Tại phiên tòa sơ thẩm đã không cho bà hỏi về nguồn gốc đất đối với bị đơn, việc đối đáp cũng hạn chế không cho trình bày hết ý kiến, nên việc xét xử là không khách quan. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xem xét một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan đúng pháp luật, xử buộc ông Trần Nam L phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho vợ chồng bà.
Bị đơn đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Kim T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa. Buộc nguyên đơn ông P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Ngày 03/8/2023 Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử vụ án, ngày 16/8/2023 người đại diện theo ủy quyền của
4
nguyên đơn ông Đinh Minh P làm đơn kháng cáo, đơn kháng cáo làm trong hạn luật định, nội dung, hình thức đúng quy định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, kháng cáo của bị đơn được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Minh P:
[2.1] Xét về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp thấy: Căn cứ vào ý kiến của các bên đương sự, các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Diện tích đất tranh chấp theo kết quả thẩm định tại chổ của Tòa án là 157,23m² (trong đó có 21,5m² đất thuộc hành lang an toàn giao thông), hiện trạng sử dụng đất bị lệch so với bản đồ địa chính, thuộc thửa đất số 337, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: tổ dân phố G, thị trấn Q huyện M, tỉnh Quảng Bình, có nguồn gốc ngày 11/10/1988 gia đình ông Đinh Minh P được Hợp tác xã H3 giao vườn cây trên diện tích đất của Hợp tác xã để khai thác cây sinh lợi và trả phần trăm lợi tức cho Hợp tác xã H3. Tại thời điểm giao cây cho gia đình ông P trồng và quản lý thì thửa đất vẫn thuộc quyền quản lý của thị trấn Q (theo biên bản bàn giao vườn cây Hợp tác xã ngày 11/10/1988 giữa Hợp tác xã H3 và ông Đinh Minh P). Gia đình ông P vẫn thực hiện việc trồng cây theo biên bản và trả lợi tức cho Hợp tác xã. Đến năm 2001 thì Hợp tác xã H3 đã dừng hoạt động, nhưng gia đình ông P vẫn tiếp tục trồng cây và khai thác từ năm 2001 cho đến nay, nhưng không nộp lợi tức nữa. Trong quá trình trồng cây và sử dụng đất gia đình ông P không tiến hành kê khai, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, nên có nhiều gia đình đến phần diện tích đất gia đình ông P trồng cây và làm nhà sinh sống, trong đó có gia đình ông L và ông L ra làm nhà sinh sống từ năm 1993 cho đến nay, nhưng gia đình ông P không có ý kiến, yêu cầu gì. Đến năm 2003, thực hiện việc lập bản đồ địa chính thị trấn Q, thửa đất ông L sử dụng được thể hiện tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 27, diện tích 550m² quy chủ hồ sơ địa chính mang tên ông Trần Nam L. Đến năm 2011, thửa đất số 05 tách ra thành 03 thửa đất gồm các thửa đất 337, 338, 339, tờ bản đồ số 24, bản đồ địa chính thị trấn Q, thửa đất số 337 và 339 quy chủ ông Trần Nam L, còn thửa đất số 338 quy chủ ông Phan T1 (ông L chuyển nhượng đất cho ông T1), còn diện tích đất ông P trồng cây vẫn thể hiện do thị trấn Q quản lý. Đến năm 2022, thì xảy ra tranh chấp, nên thửa đất chưa được cấp giấy CNQSDĐ.
Nguyên đơn ông Đinh Minh P cho rằng gia đình ông được Hợp tác xã H3 giao vườn cây trên diện tích đất (biên bản bàn giao vườn cây Hợp tác xã ngày 11/10/1988), đã sử dụng ổn định từ đó đến nay và nộp thuế quyền sử dụng đất, nên thửa đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông. Tuy nhiên, Hợp tác xã H3 không có thẩm quyền giao đất cho cá nhân, hộ gia đình theo quy định tại Điều 13 Luật đất đai 1987, nên nội dung biên bản ngày 11/10/1988 thể hiện Hợp tác xã H3 giao vườn cây trên diện tích đất của Hợp tác xã để gia đình ông P khai thác cây sinh lợi và trả phần trăm lợi tức cho Hợp tác xã H3, còn diện tích đất vẫn thuộc quyền quản lý của thị trấn Q. Ngoài ra, thửa đất mà HTX giao cho gia đình ông P không thể hiện diện tích, tứ cận, hình thể, không có biên bản bàn giao thực địa và biên bản bàn giao vườn cây của Hợp tác xã ngày 11/10/1988 không phải là căn cứ giao đất theo quy định tại Điều 19 Luật đất đai năm 1993 và một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 và khoản 1 Điều 100 Luật đất đai
5
năm 2013. Với lại, tại phiên tòa nguyên đơn gia đình ông P thừa nhận gia đình ông sau khi được HTX giao vườn cây thì gia đình ông đã ra làm nhà sinh sống trên một phần diện tích đất được HTX giao và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2001 HTX giải thể đến nay gia đình ông P không tiến hành kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 48 Luật đất đai năm 1987, Điều 79 Luật đất đai năm 1993 và các Điều 46, 47, Điều 107 Luật đất đai năm 2003 và Điều 170 Luật đất đai năm 2013 và sử dụng phần diện tích đất đó, dẫn đến nhiều gia đình, trong đó có gia đình ông L ra làm nhà sinh sống từ năm 1993 trên diện tích đất này. Đến năm 2003 gia đình ông L được cơ quan có thẩm quyền lập bản đồ địa chính quy chủ phần diện tích đất mà gia đình ông L sinh sống, sử dụng tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 27, diện tích 550m². Đến năm 2011, thửa đất số 05, tờ bản đồ số 27, diện tích 550m² được quy chủ cho gia đình ông L trong bản đồ địa chính và sổ mục kê (hiện đang được quản lý, lưu trử tại thị trấn Q, huyện M) và ông L tiến hành tách thửa đất ra thành 03 thửa đất gồm các thửa đất 337, 338, 339, tờ bản đồ số 24, bản đồ địa chính thị trấn Q, thửa đất số 337 và 339 quy chủ ông Trần Nam L, còn thửa đất số 338 quy chủ ông Phan T1 (ông L chuyển nhượng đất cho ông T1), còn thửa đất mà gia đình ông P trồng cây do HTX giao năm 1988 vẫn thuộc quyền quản lý của UBND thị trấn Q, huyện M, nhưng gia đình ông P không có ý kiến phản đối gì.
Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy không đủ căn cứ khẳng định thửa đất tranh chấp hiện đang do gia đình ông L quản lý, sử dụng thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông P. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông P là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đinh Minh P. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
[3] Về chi phí tố tụng: Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Kim T đã nộp số tiền 5.000.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản. Kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn không được chấp nhận, nên phải chịu chi phí tố tụng 5.000.000 đồng. Số tiền này bà T đã nộp đủ và chi phí hết.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, 313; các Điều 26, 35, 37, 39, 147, 157, 164, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 13, 48 của Luật đất đai năm 1987; các
6
Điều 19, 79 Luật đất đai năm 1993; các Điều 50, 107 của Luật đất đai năm 2003; các Điều 100, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí toà án. Tuyên xử.
- Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Minh P, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Nam L.
- Về chi phí tố tụng: người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn phải chịu 5.000.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản. Số tiền này người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Kim T, đã nộp đủ và chi phí hết.
- Về án phí phúc thẩm: người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 31AA/2021/0000816 ngày 16/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hoá.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Viết Hải |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
7
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Quảng Bình, ngày....... tháng........ năm 2023 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi........giờ...........phút, ngày..........tháng.......năm 2023, tại phòng nghị án Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán:.
Tiến hành nghị án đối với vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 64/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa bị kháng cáo, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đinh Minh Phúc, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim Tiền, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình,
Bị đơn: Ông Trần Nam Long, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình,
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Chị Trần Thị Thu Huyền, sinh năm 1995; địa chỉ: TDP 6 phường Hải Thành, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình,
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình; Bà Đinh Thị Hợp;
Căn cứ vào Điều 264 và Điều 307 Bộ luật tố tụng dân sự,
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
- Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 308, 313; các Điều 26, 35, 37, 39, 147, 157, 164, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 13, 48 của Luật đất đai năm 1987; các Điều 50, 107 của Luật đất đai năm 2003; các Điều 100, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí toà án.
8
Biểu quyết:
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Minh Phúc, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Biểu quyết:
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Minh Phúc về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Nam Long.
Biểu quyết:
4. Các vấn đề khác:
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Đinh Minh Phúc phải chịu 5.000.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản. Số tiền này người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Kim Tiền đã nộp đủ và chi phí hết.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Đinh Minh Phúc phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 31AA/2021/0000816 ngày 16/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hoá.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Biểu quyết:
Việc nghị án kết thúc vào hồi.........giờ..........phút ngày.......tháng.......năm 2023.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9
Bản án số 04/2023/DS-PT ngày 12/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 04/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
