|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HS-PT Ngày 12/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng Huy và ông Trần Hữu Hiệu
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 175/2023/TLPT- HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn M và các đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn M, sinh năm 1990; Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị B; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56/QĐ-XPHC ngày 12/7/2023 của Công an huyện N, tỉnh Hải Dương, xử phạt Nguyễn Văn M 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo tại ngoại (Vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo M: Luật sư Nguyễn Văn H- Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số H, Miếu Đ, M, N, Hà Nội (Có mặt)
2. Đào Văn S, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Số nhà A, đường N, khu H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông Đào Văn Đ và bà Phan Thị N1; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư; có vợ (đã ly hôn) và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 102 ngày 26/8/2010 của Công an huyện N xử phạt 700.000đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành ngày 14/10/2010; Quyết định xử phạt hành chính số 35 ngày 25/12/2015 của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh H xử phạt số tiền 1.500.000đồng về hành vi Đánh bạc; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55/QĐ-XPHC ngày 12/7/2023 của Công an huyện N, tỉnh Hải Dương, xử phạt Đào Văn S 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo tại ngoại (Vắng mặt)
3. Nguyễn Hữu K, sinh năm 1984; Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Nguyễn Quốc B1 và bà Nguyễn Thị A; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 57/QĐ-XPHC ngày 12/7/2023 của Công an huyện N, tỉnh Hải Dương, xử phạt Nguyễn Hữu K 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc; Bị cáo tại ngoại (Vắng mặt)
4. Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam con ông Nguyễn Xuân T1 và bà Nguyễn Thị T2; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54/QĐ-XPHC ngày 12/7/2023 của Công an huyện N, tỉnh Hải Dương, xử phạt Nguyễn Xuân T 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo tại ngoại (Có mặt)
5. Nguyễn Đắc Y, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Nguyễn Đắc T3 và bà Nguyễn Thị B2; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 59/QĐ-XPHC ngày 12/7/2023 của Công an huyện N, tỉnh Hải Dương, xử phạt Nguyễn Đắc Y 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Vụ án còn có 04 bị cáo khác không có kháng cáo và bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cuối tháng 8/2022, Phạm Tiến H1 quen biết và được một người phụ nữ tên là C (ở Hà Nội, không rõ tuổi, địa chỉ cụ thể) giới thiệu đang quản lý tài khoản cá cược bóng đá trái phép trên mạng Internet tại W “bong88.com”. Tháng 11 năm 2022, H1 đề nghị C cấp cho H1 tài khoản cá cược bóng đá và C đã cấp cho H1 01 tài khoản Master DTE48801 (quản lý cấp 1 - sử dụng để theo dõi, quản lý các tài khoản cấp 2, member đặt cược, tính thắng thua) để quản lý, tổ chức thực hiện cá cược bóng đá trên mạng internet. H1 và C thỏa thuận 01 điểm quy đổi bằng 7.000 đồng, thời gian tính thắng thua vào thứ 2 hàng tuần.
Từ ngày 02/11/2022 đến ngày 05/12/2022, Phạm Tiến H1 truy cập vào webside quản lý www.v88ag.com là ipad2020 và mật khẩu là hungvan97, chia tài khoản Master DTE48801 thành 05 tài khoản Agent (quản lý cấp 2 - sử dụng để theo dõi tài khoản Member đặt cược, tính thắng thua). H1 giao cho Nguyễn Hữu T4 03 tài khoản Agent gồm DTE 4880101, DTE 4880108, DTE 488010B, thỏa thuận quy đổi 01 điểm bằng 30.000 đồng để thanh toán thắng thua; H1 tự quản lý và sử dụng 01 tài khoản Agent DTE 4880100; H1 giao cho người đàn ông tên T5 ở L, K, Hải D (không rõ tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 tài khoản Agent DTE 4880106, hai bên thỏa thuận 01 điểm bằng 50.000 đồng.
Quá trình điều tra không xác định được người tên T5 ở L, K nên chưa đủ căn cứ xác định giá tiền quy đổi của 1 điểm mà đối tượng này thỏa thuận với H1 nên tạm tính số tiền quy đổi đối với các tài khoản này là 7.000 đồng/1 điểm. Dữ liệu điện tử thu được tài khoản quản lý của H1 thể hiện tài khoản Agent DTE 4880106 được chia thành 02 tài khoản Member là DTE 4880106000 và DTE 4880106001. Hai tài khoản Member này có phát sinh các trận cá cược, tính thắng thua với H1, cụ thể:
+ Tài khoản Member DTE 4880106000: Từ ngày 02/11/2022 đến ngày 04/12/2022 tham gia đánh bạc tên mạng Internet 14 trận, với số điểm cược 4.030 điểm, số điểm thắng 600 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 32.410.000 đồng. Trong đó có 02 trận cá cược mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền 12.250.000 đồng.
+ Tài khoản Member DTE 4880106001: Từ ngày 06/11/2022 đến ngày 05/12/2022 tham gia đánh bạc tên mạng Internet 62 trận, với số điểm cược 35.731 điểm, số điểm thắng 14.754 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 353.395.000 đồng. Trong đó có 28 trận cá cược mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền 254.422.000 đồng.
- Phạm Tiến H1 quản lý tài khoản Agent DTE 4880100 và chia thành 12 tài khoản Member. H1 khai đã giao các tài khoản Member cho 06 người khác để họ sử dụng đánh bạc trên mạng Internet. Quá trình điều tra, những người này không thừa nhận hành vi nhận tài khoản từ H1. Không có tài liệu, chứng cứ xác định 06 người này nhận tài khoản từ H1 để tham gia đánh bạc trên mạng Internet ngoài lời khai của H1. Do đó, chưa đủ căn cứ xác định giá tiền quy đổi của 1 điểm mà các đối tượng này thỏa thuận với H1 nên tạm tính số tiền quy đổi đối với các tài khoản này là 7.000 đồng/1 điểm. Dữ liệu điện tử thể hiện tại các tài khoản Member này vẫn phát sinh các lượt cá cược. Đồng thời, giữa H1 và các tài khoản này vẫn có tính thắng thua. Cụ thể:
+ H1 khai giao cho Lưu Thị Việt M1 tài khoản Member DTE488010000A. Từ ngày 25/11/2022 đến ngày 05/12/2022, tài khoản Member này thực hiện cá cược 22 trận, với số điểm cược 4.425 điểm, số điểm thắng 1.892,75 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 44.224.250 đồng. Trong đó có 01 trận cá cược sử dụng số tiền 5.600.000 đồng.
+ H1 khai giao cho Lê Trung H2 02 tài khoản gồm: DTE488010000B. Từ ngày 26/11/2022 đến ngày 28/11/2022, tài khoản Member này thực hiện cá cược 08 trận, với số điểm cược 10.511 điểm, số điểm thắng 2.934,72 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 94.120.040 đồng. Trong đó có 05 trận cá cược mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền 93.900.870 đồng. Tài khoản Member DTE4880100001, từ ngày 14/11/2022 đến ngày 21/11/2022, thực hiện cá cược 15 trận, với số điểm cược 2.036 điểm, số điểm thắng 1.124,78 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 22.125.460 đồng (không có trận nào sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên).
+ H1 khai giao cho Lưu Quang T6 03 tài khoản Member gồm: Tài khoản DTE488010000C. Từ ngày 26/11/2022 đến ngày 05/12/2022, tài khoản Member này thực hiện cá cược 21 trận, với số điểm cược 1.192 điểm, số điểm thắng 613,22 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 12.636.540 đồng. Trong đó có không có trận nào sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên. Tài khoản DTE4880100002, từ ngày 02/11/2022 đến ngày 27/11/2022, thực hiện cá cược 53 trận, với số điểm cược 11.742 điểm, số điểm thắng 5.440,68 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 120.278.760 đồng. Trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 12.161.450 đồng. Tài khoản DTE4880100003, từ ngày 21/11/2022 đến ngày 04/12/2022, thực hiện cá cược 32 trận, với số điểm cược 3.884 điểm, số điểm thắng 1.293,85 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 36.036.350 đồng. Trong đó không có trận nào sử dụng số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên.
+ H1 khai giao cho Bùi Thị T7 tài khoản DTE4880100008. Từ ngày 02/11/2022 đến ngày 05/12/2022, tài khoản Member này thực hiện cá cược 58 trận, với số điểm cược 12.791 điểm, số điểm thắng 4.747,79 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 122.771.530 đồng. Trong đó có 02 trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền 11.369.000 đồng.
+ H1 khai giao cho Nguyễn Hữu T8 03 tài khoản, gồm: Tài khoản DTE4880100007, từ ngày 02/11/2022 đến ngày 27/11/2022, thực hiện cá cược 40 trận, với số điểm cược 12.791 điểm, số điểm thắng 4.747,79 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 12.798.520 đồng. Trong đó có không trận nào sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên. Tài khoản DTE48801000D, từ ngày 27/11/2022 đến ngày 03/12/2022 thực hiện cá cược 14 trận, với số điểm cược 1.220 điểm, số điểm thắng 284,1 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 10.258.700 đồng. Trong đó có không trận nào sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên. Tài khoản DTE488010004, từ ngày 27/11/2022 đến ngày 02/12/2022, thực hiện cá cược 18 trận, với số điểm cược 677 điểm, số điểm thắng 224,71 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 6.311.970 đồng. Trong đó có không trận nào sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên.
+ H1 khai giao cho người đàn ông tên K1 (không rõ tuổi, địa chỉ) 02 tài khoản để sử dụng tham gia đánh bạc trên mạng Internet, gồm: TK DTE4880100006, ngày 01/12/2022, thực hiện cá cược 03 trận, với số điểm cược 130 điểm, số điểm thắng 16,20 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 1.023.400 đồng. TK DTE4880100005, từ ngày 22/11/2022 đến ngày 05/12/2022, thực hiện cá cược 33 trận, với số điểm cược 9.245 điểm, số điểm thắng 495,11 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 68.145.770 đồng. Trong đó có 02 trận sử dụng số tiền trên 5.000.000 đồng với tổng số tiền là 56.000.000 đồng.
- Sau khi nhận 03 tài khoản cấp độ A1 từ H1, Nguyễn Hữu T4 giao tài khoản Agent DTE 4880108 cho Đào Văn S, thỏa thuận quy đổi 1 điểm bằng 60.000 đồng; giao tài khoản Agent DTE 488010B cho người đàn ông tên T9 (không rõ tuổi, địa chỉ) thỏa thuận 1 điểm bằng 100.000 đồng; còn tài khoản Agent DTE 4880101, T4 truy cập vào webside quản lý www.v88ag.com thành 13 tài khoản Member. T4 giao, hướng dẫn, thỏa thuận mức tiền cược 01 điểm bằng 100.000 đồng để người khác thực hiện việc cá cược bóng đá, sát phạt nhau bằng tiền nhằm hưởng tiền chênh lệch. Người chơi có tài khoản M2 sẽ đăng nhập trang webside http://bong8899.com thực hiện cá cược. Các đối tượng chốt điểm thắng thua, thanh toán tiền vào thứ 2 hàng tuần. Cụ thể như sau:
+ Đào Văn S nhận tài khoản Agent DTE 4880108 và chia thành 4 tài khoản Member. S sử dụng 02 tài khoản Member DTE4880108001 và DTE4880108002 để cá cược các trận bóng đá trên mạng Internet. Từ ngày 02/11/2022 đến 05/12/2022, S thực hiện cá cược 294 trận, với số điểm cược của cả hai tài khoản là (11.986+22.951) điểm, số điểm thắng của cả hai tài khoản là (4.519,91+10.279,55) điểm. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 2.984.187.600 đồng. Trong đó có 247 trận với mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 2.826.966.600 đồng; Có 26 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 20.000.000 đồng trở lên, có 02 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên. Đào Văn S thắng số tiền 151.990.800 đồng.
+ Đào Văn S khai giao tài khoản Member DTE 4880108000 cho Phạm Xuân A2. Quá trình điều tra, Phạm Xuân A2 không thừa nhận hành vi nhận tài khoản từ S, không có tài liệu, chứng cứ xác định Xuân A2 nhận tài khoản để tham gia đánh bạc trên mạng Internet nên chưa đủ căn cứ xác định giá tiền quy đổi của 1 điểm mà đối tượng này thỏa thuận với S nên tạm tính số tiền quy đổi của tài khoản này là 60.000 đồng/1 điểm. Dữ liệu điện tử thể hiện tài khoản Member này có phát sinh các lượt cá cược, giữa S và T4 có tính thắng thua. Từ ngày 02/11/2022 đến ngày 05/12/2022, tài khoản này thực hiện cá cược 112 trận, trong đó có 37 trận mỗi mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 362.129.400 đồng, có 02 trận sử dụng số tiền sử dụng để đánh bạc mà mỗi trận từ 50.000.000 đồng trở lên. Tại bản tự khai ngày 20/12/2023, S khai nhận đã dùng tài khoản Member DTE4880108000 để trực tiếp đánh bạc, việc trước đây S khai giao tài khoản này cho anh Phạm Xuân A2 là không chính xác.
Do đó, S phải chịu trách nhiệm với 03 tài khoản trên và số tiền đánh bạc trái phép là 3.189.096.000 đồng. Số tiền S thu lời bất chính là 163.705.200 đồng.
+ Đào Văn S giao tài khoản Member DTE 4880108003 cho Phạm Văn C1. Từ ngày 20/11/2022 đến ngày 01/12/2022, C1 thực hiện cá cược, đánh bạc trên mạng Internet 65 trận với số điểm cược 1.210 điểm, số điểm thắng 450 điểm, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 166.002.000 đồng. Trong đó, có 06 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên, số tiền sử dụng để đánh bạc là 43.916.000 đồng (không có trận nào sử dụng số tiền trên 20.000.000 đồng); Phạm Văn C1 thắng 8.043.000 đồng.
+ Nguyễn Văn M nhận tài khoản Member DTE 488010100A từ T4 để tham gia đánh bạc trên mạng Inernet. Từ ngày 28/11/2022 đến ngày 05/12/2022, M thực hiện cá cược 255 trận với số điểm cược là 28.620,00 điểm, số điểm thắng là 10.880,85 điểm. Số tiền sử dụng để đánh bạc là 3.950.085.000 đồng. Trong đó có 190 trận cá cược mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là 3.744.470.000 đồng. Có 17 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên. Nguyễn Văn M thắng 95.694.000 đồng.
+ Nguyễn Xuân T sử dụng tài khoản Member DTE 488010100B tham gia đánh bạc trên mạng Inernet. Từ ngày 28/11/2022 đến ngày 05/12/2022, T thực hiện cá cược 55 trận, với số điểm cược 6.757 điểm, số điểm thắng 2.628,3 điểm, số tiền sử dụng để đánh bạc là 938.530.000 đồng. Trong đó có 43 trận cá cược mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là 899.225.000 đồng. Có 05 trận sử dụng số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên. Nguyễn Xuân T thắng 165.000 đồng.
+ Nguyễn Hữu K sử dụng tài khoản Member DTE 4880101004 tham gia đánh bạc trên mạng Inernet. Từ ngày 17/11/2022 đến ngày 05/12/2022, K thực hiện cá cược 65 trận, với số điểm cược 11.270 điểm, số điểm thắng 3.163,1 điểm, số tiền sử dụng để đánh bạc là 1.443.310.000 đồng. Trong đó có 62 trận cá cược mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền 1.432.530.000 đồng; Có 03 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền đánh bạc từ 50.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là 193.000.000 đồng. Nguyễn Hữu K thua 84.870.000 đồng.
+ Nguyễn Đắc Y sử dụng tài khoản Member DTE 4880101005 tham gia đánh bạc trên mạng Inernet. Từ ngày 20/11/2022 đến ngày 05/12/2022, Y thực hiện cá cược 25 trận với số điểm cược 2.643 điểm, số điểm thắng 810,8điểm, số tiền sử dụng để đánh bạc là 345.389.000 đồng. Trong đó có 19 trận mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 323.245.000 đồng; Có 01 trận sử dụng số tiền đánh bạc là 65.500.000 đồng; Nguyễn Đắc Y thua 43.649.000 đồng.
*Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2023/HS- ST ngày 25/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách đã:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Đào Văn S, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đắc Y phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 04 năm tù.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn S 04 năm tù.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu K 03 năm 08 tháng tù.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 03 năm 08 tháng tù.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc Y 03 năm tù.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo M, S, K, T, Y đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo T, Y giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Người bào chữa của bị cáo M đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo M theo quy định và xem xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn M, Đào Văn S, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đắc Y về tội Đánh bạc theo điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và đã xử phạt bị cáo M 04 năm tù, bị cáo S 04 năm tù, bị cáo K 03 năm 8 tháng tù, bị cáo T 03 năm 8 tháng tù, bị cáo Y 3 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Các bị cáo M, S đánh bạc với số tiền nhiều hơn các bị cáo khác, việc các bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt nên không chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm. Đối với bị cáo K có vị trí sau các bị cáo M, S; tại cấp phúc thẩm xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên thấy có căn cứ xem xét chấp nhận một phần kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Đối với các bị cáo T, Y phạm tội lần đầu, là các bị cáo tham gia đánh bạc ở vị trí thấp hơn các bị cáo M, S và K; tại cấp phúc thẩm xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đều lần đầu phạm tội và có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo T 36 tháng tù, bị cáo Y 36 tháng tù, cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định. Về án phí: Các bị cáo M, S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo K, T và Y không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn M, Đào Văn S, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đắc Y trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Bị cáo S, K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt các bị cáo tại phiên tòa và bị cáo M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Lời khai của các bị cáo T, Y tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm và phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
[2.1] Đối với hành vi của Đào Văn S: Sau khi được Nguyễn Văn T10 giao cho tài khoản Agent DTE4880108, thỏa thuận 1 điểm quy đổi bằng 60.000 đồng. S đã chia thành 4 tài khoản cấp độ Member, gồm: DTE4880108000, DTE4880108001, DTE4880108002, DTE4880108003. S giao tài khoản Member DTE4880108003 cho Phạm Văn C1 sử dụng để đánh bạc và S sử dụng 02 tài khoản cấp độ Member DTE4880108001 và DTE4880108002 để cá cược các trận bóng đá với giá quy đổi 01 điểm cược bằng 60.000 đồng. Từ ngày 02/11/2022 đến 05/12/2022, S thực hiện cá cược 294 trận, trong đó có 247 trận cá cược mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 2.826.966.600 đồng; có 26 trận sử dụng số tiền để đánh bạc mà mỗi trận từ 20.000.000 đồng trở lên, có 02 trận sử dụng số tiền sử dụng để đánh bạc mà mỗi trận từ 50.000.000 đồng trở lên.
Trước đây S khai giao tài khoản cấp độ Member DTE4880108000 cho anh Phạm Xuân A2 đánh bạc. Quá trình điều tra, không có căn cứ xác định Phạm Xuân A2 nhận tài khoản để tham gia đánh bạc trên mạng Internet. Tuy nhiên, tại tài khoản Member này vẫn phát sinh các lượt cá cược. Đồng thời, giữa S và T10 có tính thắng thua. Từ ngày 02/11/2022 đến ngày 05/12/2022, tài khoản này thực hiện cá cược 112 trận, trong đó có 37 trận mỗi mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 362.129.400 đồng, có 02 trận sử dụng số tiền sử dụng để đánh bạc mà mỗi trận từ 50.000.000 đồng trở lên. Tại bản tự khai ngày 20/12/2023, S khai nhận đã dùng tài khoản Member DTE4880108000 để trực tiếp đánh bạc, việc trước đây S khai giao tài khoản này cho anh Phạm Xuân A2 là không chính xác.
Do đó, S phải chịu trách nhiệm với 03 tài khoản trên và số tiền đánh bạc trái phép là 3.189.096.000 đồng. Số tiền S thu lời bất chính là 163.705.200 đồng.
[2.2] Đối với hành vi của nhóm các bị cáo đánh bạc khác:
- Nguyễn Văn M có hành vi sử dụng tài khoản Member DTE 488010100A tham gia đánh bạc trên mạng Inernet. Từ ngày 28/11/2022 đến ngày 05/12/2022, M thực hiện cá cược 255 trận, trong đó có 190 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là 3.744.470.000 đồng, có 17 trận sử dụng số tiền sử dụng để đánh bạc mà mỗi trận từ 50.000.000 đồng trở lên. Nguyễn Văn M thu lời bất chính số tiền 95.694.000 đồng.
- Nguyễn Hữu K có hành vi sử dụng tài khoản Member DTE 4880101004 tham gia đánh bạc trên mạng Inernet. Từ ngày 17/11/2022 đến ngày 05/12/2022, K thực hiện cá cược 65 trận, trong đó có 62 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là 1.432.530.000 đồng, có 03 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền đánh bạc từ 50.000.000 đồng trở lên. Nguyễn Hữu K thua 84.870.000 đồng.
- Nguyễn Xuân T có hành vi sử dụng tài khoản Member DTE 488010100B tham gia đánh bạc trên mạng Inernet. Từ ngày 28/11/2022 đến ngày 05/12/2022, T thực hiện cá cược 55 trận, trong đó có 43 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là 899.225.000 đồng, có 05 trận sử dụng số tiền sử dụng để đánh bạc mà mỗi trận từ 50.000.000 đồng trở lên. Nguyễn Xuân T thu lời bất chính 165.000 đồng.
- Nguyễn Đắc Y có hành vi sử dụng tài khoản Member DTE 4880101005 tham gia đánh bạc trên mạng Inernet. Từ ngày 20/11/2022 đến ngày 05/12/2022, Y thực hiện cá cược 25 trận, trong đó có 19 trận mà mỗi trận sử dụng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là 323.245.000đồng, có 01 trận sử dụng số tiền đánh bạc là 65.500.000 đồng; Nguyễn Đắc Y thua 43.649.000 đồng.
[2.3] Tòa án nhân dân huyện Nam Sách đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn M, Đào Văn S, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đắc Y về tội đánh bạc theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo M, S, K, T và Y về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tội danh các bị cáo M, S, K, T và Y không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
[3] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo M, S, K, T, Y:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo M, S, K, T, Y được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo M, K, Y được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và 05 bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định.
Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo S, K và Y xuất trình tài liệu về việc đã tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm và tham gia đóng góp vào các quỹ tại địa phương nơi các bị cáo cư trú; bị cáo M, T tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm và tham gia đóng góp vào quỹ tại địa phương nên thấy cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo K xuất trình các tài liệu, có xác nhận của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H về việc phát hiện tội phạm vào ngày 31/10/2023 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với kháng cáo của các bị cáo M, S thì thấy: Các bị cáo đánh bạc với số tiền lớn hơn các bị cáo khác trong vụ án, bị cáo M dùng 3.744.470.000 đồng để đánh bạc, bị cáo S dùng 3.189.096.000 đồng để đánh bạc, bị cáo S các năm 2010, 2015 đều đã bị xử phạt hình chính về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học còn tiếp tục phạm tội đánh bạc. Cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm mà các bị cáo gây ra, đã xử phạt bị cáo M 04 năm tù, bị cáo S 04 năm tù là đã xem xét, chiếu cố cho hai bị cáo; tại cấp phúc thẩm các bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng không là căn cứ đáng kể để xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo, cần giữ nguyên án sơ thẩm.
Đối với kháng cáo của bị cáo K thì thấy: Bị cáo dùng 1.432.530.000 đồng để đánh bạc, cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 03 năm 08 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo K là có căn cứ pháp luật.
Đối với kháng cáo của các bị cáo T, Y thì thấy: Các bị cáo dùng số tiền để đánh bạc ít hơn các bị cáo khác trong vụ án, bị cáo T dùng 889.225.000 đồng để đánh bạc và thắng bạc là 165.000 đồng, bị cáo Y dùng 323.245.000 đồng để đánh bạc. Các bị cáo dùng tiền để đánh bạc trên mạng internet bằng hình thức cá độ bóng đá, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng; tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thể hiện việc ăn năn hối cải, quá trình tại ngoại không vi phạm pháp luật, có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm, giảm cho bị cáo T một phần hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Y và cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo M, S không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; kháng cáo của các bị cáo K, T và Y được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Ghi nhận việc các bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt bổ sung theo theo bản án sơ thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn M, Đào Văn S; Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hữu K, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đắc Y. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2023/HS- ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách về phần hình phạt đối với các bị cáo M, S; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2023/HS- ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách về phần hình phạt đối với các bị cáo K, T, Y.
2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Đào Văn S, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đắc Y phạm tội “Đánh bạc”.
3. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn S 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu K 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/01/2024)
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc Y 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/01/2024)
Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Đắc Y cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Đào Văn S mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Nguyễn Hữu K, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đắc Y không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ghi nhận việc bị cáo Đào Văn S đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm) đồng theo Biên lai thu tiền số 0000705 ngày 04/12/2023 và Biên lai thu tiền số AA/2021/0001519 ngày 06/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Hữu K đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm) đồng theo Biên lai thu tiền số 0001523 ngày 09/10/2023 và Biên lai thu tiền số AA/2021/0001520 ngày 06/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Đức Y1 đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm là 20.200.000 đồng (Hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001517 ngày 06/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn M đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0001524 ngày 27/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Xuân T đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung là 19.365.000 đồng (Mười chín triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001522 ngày 09/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Tuyết |
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 12/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về đánh bạc
- Số bản án: 04/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Văn Sơn + ĐP
