Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ YÊN,

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ- ST

Ngày 11 - 6 - 2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lý Thị Dung
  2. Bà Bàn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngoãn – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hân-Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXX-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Cầm THị Th, sinh năm 1981; nơi cư trú: Bản Mỏ, xã Tân Lang, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (có mặt).
  2. Bị đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1975; nơi cư trú: Bản Sổ, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Cầm THị Th trình bày: Chị Thuật và anh Tình xác lập quan hệ vợ chồng từ tháng 12 năm 2000, trên cơ sở tự nguyện, được Uỷ ban nhân dân xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/12/2000. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau, anh Tình thường xuyên có hành vi bạo lực về tinh thần và thân thể đối với chị Thuật. Chị Thuật và anh Tình đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Chị Thuật thấy rằng, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là trầm trọng, không thể giải hoà, tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Tình.

Về con chung, vợ chồng sinh được hai người con chung là cháu Hà Thị Th, sinh ngày 25/10/2001 và cháu Hà Văn M, sinh 20/7/2006. Hiện nay cháu Hà Thị Th đã thành niên và đã lập gia đình riêng, còn cháu Hà Văn M đang sống cùng với bố đẻ là anh Hà Văn T tại bản Sổ, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa, chị Thuật đề nghị để anh Hà Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Văn M. Về tài sản chung, tài sản riêng, chị Thuật không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không có nghĩa vụ chung về tài sản.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, anh Tình không có ý kiến bằng văn bản. Tại phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn là anh Hà Văn T vắng mặt không có lý do. Tại đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa anh Tình nhất trí ly hôn, các vấn đề khác anh Tình không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa. Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng. Riêng đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng không có mặt.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Thuật được ly hôn anh Tình. Giao cho anh Tình trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Văn M. Về tài sản chung, tài sản riêng và về cấp dưỡng nuôi con, đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng, sau khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 05/4/2024 và 21/5/2024 nhưng bị đơn là anh Hà Văn T văng mặt không có lý do nên Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử công khai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXX – ST ngày 23 tháng 5 năm 2024. Tuy nhiên, do bị đơn là anh Hà Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân, chị Cầm THị Th và anh Hà Văn T xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quan hệ hôn nhân giữa chị Cầm THị Th và anh Hà Văn T được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp kể từ ngày 22 tháng 12 năm 2000 (ngày đăng ký kết hôn).

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan điểm sống giữa vợ và chồng có nhiều khác biệt. Vợ chồng không tin tưởng, không tôn trọng nhau. Do mâu thuẫn giữa hai vợ chồng trầm trọng nên chị Thuật và anh Tình đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh Tình và chị Thuật đều không có giải pháp phù hợp để hàn gắn mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tình cảm vợ chồng không còn; tình trạng hôn nhân là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19, Điều 21, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thuật.

[3] Về con chung, vợ chồng anh Tình, chị Thuật có hai người con chung là cháu Hà Thị Th và cháu Hà Văn M. Cháu Hà Thị Th đã thành niên và đã lập gia đình riêng nên không xem xét giải quyết. Đối với việc nuôi dưỡng cháu Hà Văn M, xét điều kiện và khả năng của các bên thì chị Thuật và anh Tình đều làm nghề lao động tự do, đều có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh Tình lao động tự do tại địa phương, có nơi ở ổn định, hơn nữa hiện cháu Minh đang sống cùng với anh Tình. Chị Thuật hiện đang đi làm ăn xa, không thường xuyên sinh sống tại địa phương, mặt khác chị Thuật cũng có ý kiến đề nghị anh Tình trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Minh, cần giao cho anh Tình trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Văn M.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung, do thời gian từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Hà Văn M thành niên (đủ 18 tuổi) chỉ còn 10 ngày, mặt khác bản thân cháu Minh cũng đã có việc làm, có thu nhập, các bên đương sự không có yêu cầu về vấn đề cấp dưỡng nên Tòa án không xem xét.

[5] Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí, chị Thuật phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 17, 18, 19, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Cầm THị Th và anh Hà Văn T.
  2. Về con chung:

Giao cho anh Hà Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Văn M, sinh ngày 20/7/2006 cho đến khi cháu Hà Văn M thành niên (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, chị Cầm THị Th và anh Hà Văn T vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí: Chị Cầm THị Th phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí chị Thuật đã nộp theo biên lai thu số: 0531 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/6/2024), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát Phù Yên;
  • - Chi cục THA Dân sự Phù Yên;
  • - UBND xã Tân Lang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tân Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ- ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA về ly hôn

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger