|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 11-01-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Tám
- Bà Đặng Thị Tiềm
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 99/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 08/2023/TB-TA ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hoa L, sinh ngày 26/5/1990, tại tỉnh Tiền Giang.
Tên thường gọi: không.
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã T huyện T, tỉnh Tiền Giang.
| Dân tộc: Kinh. | Quốc tịch: Việt Nam. | Tôn giáo: Không |
| Nghề nghiệp: không. | Trình độ học vấn: 6/12. | Giới tính: Nam |
Con ông Trần Văn V, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Hồng L1, sinh năm 1975;
Vợ: Trần Thị Thanh N, sinh năm 1996 (đã ly hôn). Có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án: 01 lần. Ngày 15/6/2022, bị Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 52/2022/HSST. Chấp hành xong ngày 25/01/2023.
Tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/9/2023, chuyển tạm giam từ ngày giam từ ngày 21/9/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Lê Hữu T, sinh năm 1972 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố M, phường N, thị xã C, Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu phố A, Phường E, Thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 16/9/2023, bị cáo Trần Hoa L đi bộ từ khu phố B, phường D, thị xã C đến nhà bạn ở phường N, thị xã C chơi. Khi đi đến một đoạn đường đan không tên thuộc khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang thì bị cáo L phát hiện một xe đạp điện của ông Lê Hữu T chìa khóa vẫn cấm trên xe, không có người trông coi, dựng trước vườn mít của ông Huỳnh Hải T1. Bị cáo L tiếp tục đi bộ trên đường đan này hướng ra đường M đến quán cà phê Cát T2 thuộc phường N. Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Lữ nảy s ý định trộm cắp tài sản nên quay lại nơi đậu xe đạp điện leo lên xe, bật chìa khóa chạy đi. Bị cáo L điều khiển xe chạy quanh nhiều tuyến đường để tìm nơi giấu xe. Sau đó bị cáo L điều khiển xe chạy đến nhà chị Nguyễn Thị Ú tại khu phố A, phường E, thị xã C để gửi và nhờ chị Ú bán dùm. Đến trưa cùng ngày chị Ú điện thoại cho bị cáo L nói có người mua xe với giá 1.300.000 đồng, do thấy giá rẻ nên bị cáo L không đồng ý bán và tiếp tục gửi xe ở nhà chị Ú. Đến ngày 19/9/2023, Cơ quan cảnh điều tra Công an thị xã C bắt khẩn cấp bị cáo L về hành vi trộm cắp tài sản.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu BMM ASISTA, trên sườn xe có số: 222H04299.
- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu xanh có logo và dòng chữ BIA SAIGON SPECIAL.
- 01 (một) đôi dép kẹp, màu xanh, quay dép có chữ ADIDAS.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím, màu trắng đen, bên trong điện thoại có gắn 01 sim viễn thông của nhà mạng V1.
Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C kết luận: 01 xe đạp điện nhãn hiệu BMM ASISTA, trên sườn xe có số: 222H04299 trị giá 3.200.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Hoa L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa,
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Hoa L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Hoa L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hoa L từ 12 đến 15 tháng tù.
- Đối với vật chứng, đề nghị xử lý như sau: tịch thu tiêu hủy đối với (một) áo thun ngắn tay, màu xanh có logo và dòng chữ BIA SAIGON SPECIAL; 01 (một) đôi dép kẹp, màu xanh, quay dép có chữ ADIDAS. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím, màu trắng đen, bên trong điện thoại có gắn 01 sim viễn thông của nhà mạng Viettel bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo không trình bày lời bào chữa. Nói lời nói sau cùng bị cáo trình bày biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoa L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận khoảng 05 giờ, ngày 16/9/2023, tại đoạn đường đan không tên, phía trước vườn mít của ông Huỳnh Hải T1 thuộc khu phố M, phường N, thị xã C, bị cáo Trần Hoa L có hành vi lén lút trộm 01 xe đạp điện nhãn hiệu BMM ASISTA của ông Lê Hữu T, tài sản thiệt hại 3.200.000 đồng. Vì vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Hoa L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo vẫn không ăn năn hối cải, mà lại có hành vi phạm tội mới. Điều đó cho thấy bị cáo là người có ý thức xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu BMM ASISTA, trên sườn xe có số: 222H04299 đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với: (một) áo thun ngắn tay, màu xanh có logo và dòng chữ BIA SAIGON SPECIAL; 01 (một) đôi dép kẹp, màu xanh, quay dép có chữ ADIDAS, xét thấy các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím, màu trắng đen, bên trong điện thoại có gắn 01 sim viễn thông của nhà mạng Viettel, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận dùng điện thoại vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Đối với chị Nguyễn Thị Ú có nhận giữ, giúp bị cáo Lữ tìm người bán xe đạp điện nhưng chị Ú không biết xe đạp điện do bị cáo Lữ trộm mà có nên hành vi của chị Ú không có dấu hiệu tội phạm.
[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
* Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về Hình phạt
- - Tuyên bố bị cáo Trần Hoa L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Phạt bị cáo Trần Hoa L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/9/2023.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy (một) áo thun ngắn tay, màu xanh có logo và dòng chữ BIA SAIGON SPECIAL; 01 (một) đôi dép kẹp, màu xanh, quay dép có chữ ADIDAS.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím, màu trắng đen, bên trong điện thoại có gắn 01 sim viễn thông của nhà mạng V1.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/12/2023)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Hoa L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Cẩm Loan |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hoa L - Trộm cắp tài sản
