Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 04/2024/KDTM-PT

Ngày 11 tháng 01 năm 2024

V/v: “Tranh chấp tiền lãi chậm trả

của Hợp đồng thiết kế và xây dựng

công trình”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Thảo

Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Đoan Trang

Bà Mai Thị Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phùng Thị Lan– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27/12/2023 và 11/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số 139/2023/TLPT-KDTM ngày 25/10/2023 về việc “Tranh chấp tiền lãi chậm trả của Hợp đồng thiết kế và xây dựng công trình”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 55/2023/KDTM-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5404/2023/QĐ-PT ngày 16/11/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 16377/2023/QĐ-PT ngày 08/12/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 17059/2023/QĐ-PT ngày 27/12/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần D

Địa chỉ trụ sở: Số C C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền:

  • Bà Hoàng Thị Khánh V, sinh năm 1983, (Có mặt).
  • Địa chỉ: Số A Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Ông Lê Tấn Anh K, sinh năm 1972, (Có mặt).
  • Địa chỉ: Số C Ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Bà Hoàng Ngọc H, sinh năm 1992, (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Phường Đ, Thành phố V, tỉnh Nghệ An

Địa chỉ liên hệ của cả 03 đại diện theo ủy quyền: Lầu C tòa nhà E - C C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy ủy quyền số 43/UQ2022 ngày 14/11/2022)

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T5

Trụ sở chính: khu TM số S1.A2.02.03, tầng 02, Tháp S, số B P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền:

  • Bà Lương Thị Kim T, sinh năm 1994, (Có mặt).
  • Địa chỉ: Thôn C, Tịnh Ấn T1, Thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

  • Hoặc/và Bà Ngô Mộng T2, sinh năm 1983, (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số A, Tầng B Lô B T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Hoặc/và bà Bạch Thị Tố H1, sinh năm 1993, (Có mặt ngày 27/12).
  • Địa chỉ: Số B Q, Thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

  • Hoặc/và ông Chu Văn T3, sinh năm 1985, (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số H K, ngõ C Đường B, phường V, quận B, Thành phố Hà Nội.

  • Hoặc/và ông Lê Văn P, sinh năm 1986, (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: 903/2/7 T, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy ủy quyền số 02/2023/UQ-SSSG ngày 12/5/2023)

* Người kháng cáo:

  • Công ty Cổ phần T5 là bị đơn.
  • Công ty Cổ phần D R.E.E là nguyên đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của Bản án sơ thẩm như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/11/2022 quá trình giải quyết và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 23 tháng 7 năm 2019, Công ty Cổ phần D (Viết tắt Công ty D – nguyên đơn) và Công ty Cổ phần T5 (Viết tắt Công ty T5) đã ký Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE về việc: Công ty D thực hiện gói thầu thiết kế bản vẽ thi công hệ thống cơ điện và thi công hệ thống cơ điện, hệ thống phòng cháy chữa cháy cho dự án khu nhà ở phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại địa điểm đường P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE được ký kết, Công ty DCông ty T5 đã thực hiện các công việc và nghiệm thu công trình theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, kể từ tháng 3 năm 2021 đến nay, Công ty T5 liên tục chậm thanh toán cho Công ty D giá trị thi công công trình theo tiến độ hai bên đã thỏa trong Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE. Công ty T5 đã vi phạm thỏa thuận của các bên và quy định pháp luật hiện hành, bởi:

Thứ nhất: Nghĩa vụ thanh toán của Công ty T5 đã đến hạn và các bên đã đáp ứng đầy đủ điều kiện thanh toán. Cụ thể mỗi đợt thanh toán như sau:

  • Thanh toán đợt 10: Ngày 12 tháng 3 năm 2021, Công ty R.E.E đệ trình đầy đủ hồ sơ thanh toán đợt 10 (trong đó bao gồm bảng tính giá trị đề nghị thanh toán do Công ty T5 ký phê duyệt). Căn cứ điểm 7.4.2.b khoản 7.4 Điều 7 Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE, Công ty T5 có trách nhiệm thanh toán số tiền 29.192.064.981 đồng trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ thanh toán, tức chậm nhất ngày 24 tháng 3 năm 2021.
  • Thanh toán đợt 11: Ngày 10 tháng 6 năm 2021, Công ty D đệ trình đầy đủ hồ sơ thanh toán đợt 11 (trong đó bao gồm bảng tính giá trị đề nghị thanh toán do Công ty T5 ký phê duyệt). Căn cứ điểm 7.4.2.b khoản 7.4 Điều 7 Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE, Công ty T5 có trách nhiệm thanh toán số tiền 5.958.924.514 đồng trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ thanh toán, tức chậm nhất ngày 22 tháng 6 năm 2021.
  • Thanh toán đến 95% giá trị khối lượng hoàn thành: Ngày 17 tháng 11 năm 2021, Công ty D đã gửi 08 bộ gốc hồ sơ tổng hợp khối lượng hoàn thành (có ký và đóng dấu) cho ban quản lý dự án của Công ty T5 (người nhận: Huỳnh Trung T4 – QS). Căn cứ điểm 7.4.2.b khoản 7.4 Điều 7 Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE, Công ty T5 có trách nhiệm thanh toán đến 95% giá trị khối lượng hoàn thành (số tiền 9.475.714.531 đồng) trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ thanh toán, tức chậm nhất ngày 29 tháng 11 năm 2021.

Mặt khác, căn cứ khoản 7.7 Điều 7 Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE quy định về thời gian phê duyệt các loại hồ sơ, đối với hồ sơ thanh toán thời gian Công ty T5 phê duyệt là 07 ngày. Trường hợp Công ty D không nhận được ý kiến phản hồi hợp lý trong thời gian quy định nêu trên thì xem như hồ sơ của Công ty R.E.E được Công ty T5 chấp thuận và phê duyệt.

Đến hết ngày 24 tháng 11 năm 2021, Công ty D vẫn không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ Công ty T5, do đó hồ sơ thanh toán này xem như đã được Công ty T5 chấp thuận và phê duyệt theo đúng thỏa thuận giữa các bên. Do đó, Công ty D có quyền yêu cầu Công ty T5 thanh toán lãi chậm trả từ ngày phát sinh nghĩa vụ (ngày 29 tháng 11 năm 2022) đến thời điểm Công ty T5 thực tế thanh toán (ngày 19 tháng 7 năm 2022 cho số tiền 4.041.075.486 đồng và ngày 31 tháng 8 năm 2022 cho số tiền 5.343.639.045 đồng).

Thanh toán giá trị quyết toán: Ngày 27 tháng 12 năm 2021, Công ty D chính thức đệ trình (bản có ký và đóng dấu) hồ sơ quyết toán A-B của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE đến Công ty T5. Từ khi nhận được hồ sơ quyết toán A-B do Công ty D đệ trình và cho đến thời điểm sau đó 14 ngày làm việc, tức ngày 14 tháng 01 năm 2022, Công ty T5 vẫn không có bất cứ văn bản nào phản hồi về hồ sơ quyết toán A-B mà Công ty D đã đệ trình. Do đó, theo quy định tại gạch (-) thứ hai điểm b khoản 7.5 Điều 7 Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE, hồ sơ quyết toán A-B mà Công ty D đệ trình đã xem là hợp lệ và được Công ty T5 phê duyệt kể từ ngày 14 tháng 01 năm 2022.

Căn cứ khoản 7.5 Điều 7 Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE, Công ty T5 có trách nhiệm thanh toán đến 100% giá trị quyết toán của hợp đồng trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày Công ty T5 phê duyệt hồ sơ quyết toán A-B, do đó, nghĩa vụ thanh toán của Công ty T5 phải được hoàn thành trước ngày 04 tháng 3 năm 2022 – ngày làm việc thứ 30 kể từ ngày 14 tháng 01 năm 2022. Tuy nhiên, đến ngày 08 tháng 9 năm 2022 Công ty T5 mới chính thức hoàn tất nghĩa vụ thanh toán này, nên Công ty D có quyền yêu cầu Công ty T5 thanh toán lãi chậm trả từ ngày phát sinh nghĩa vụ (ngày 04 tháng 3 năm 2022) đến thời điểm Công ty T5 thực tế thanh toán (ngày 08/9/2022).

Căn cứ văn bản số 01/2023/CV-SSG ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Công ty T5, Công ty T5 cũng xác nhận tình trạng chậm thanh toán với Công ty D, chính vì vậy, Công ty T5 đã tiến hành thanh toán toàn bộ nợ gốc cho Công ty D.

Thứ hai: Căn cứ khoản 14.3 Điều 14 của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE, Điều 306 Luật Thương mại, khoản 1 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, do Công ty T5 chậm thanh toán theo quy định của khoản 7.4 (thanh toán) và 7.5 (quyết toán) Điều 7 Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE, nên Công ty T5 có trách nhiệm thanh toán tiền lãi theo lãi suất 10%/năm trên số tiền chậm thanh toán.

Ngày 29 tháng 6 năm 2022, hai bên đã thống nhất lãi suất 10%/năm cho số tiền chậm trả. Như vậy, trên cơ sở số tiền chậm thanh toán, số ngày chậm thanh toán và lãi suất chậm thanh toán 10%/năm, tổng số tiền lãi chậm thanh toán của Công ty T5 theo Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE tính đến ngày 29 tháng 6 năm 2022 là 5.011.393.000 đồng.

Căn cứ xác nhận của đại diện Công ty T5, ông Chu Văn T3 và bà Lương Thị Kim T, tại biên bản hòa giải ngày 08 tháng 02 năm 2023, đại diện Công ty T5 đã đồng ý với tiền lãi chậm thanh toán của đợt 10, đợt 11.

Thứ ba: Đối với yêu cầu khấu trừ chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm phục vụ thi công và khối lượng công việc Công ty D chưa thực hiện, Công ty D cho rằng không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Công ty T5 cả về mặt tố tụng và nội dung yêu cầu.

Về mặt tố tụng: Yêu cầu khấu trừ chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm phục vụ thi công và khối lượng công việc Công ty D chưa thực hiện được Công ty T5 đưa ra để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của Công ty D, yêu cầu này của Công ty T5 là yêu cầu phản tố. Căn cứ theo khoản 1, 3 Điều 200, khoản 1 Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Công ty T5 phải nộp đơn phản tố cho tòa án trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, cho đến phiên tòa sơ thẩm, Công ty T5 vẫn chưa nộp đơn phản tố cho tòa án và chưa nộp tiền tạm ứng án phí cho yêu cầu phản tố của mình. Vì vậy kính đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu phản tố của Công ty T5.

Về mặt nội dung: Ngày 29 tháng 6 năm 2022, Công ty DCông ty T5 đã cùng thống nhất thỏa thuận số tiền nợ gốc của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019 là 49.367.980.544 đồng, các khoản khấu trừ (nếu có) phát sinh trước thời điểm này đã được hai bên giải quyết và đồng ý giá trị thi công cuối cùng.

Thỏa thuận trên đã được Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh công nhận bằng Quyết định số 118/2022/QĐST-KDTM có hiệu lực kể từ ngày 07 tháng 7 năm 2022, Công ty T5 cũng đã thanh toán toàn bộ nợ gốc 49.367.980.544 đồng cho Công ty D.

Việc Công ty T5 yêu cầu tính lại số tiền thi công thông qua khấu trừ các chi phí đầu tư hệ thống điện nước, công việc chưa thực hiện là đang vi phạm chính thỏa thuận Công ty T5 đã đồng ý và đã hoàn tất. Do đó Công ty D không đồng ý bất kỳ yêu cầu nào liên quan đến việc tính lại số tiền thi công của Công ty T5 hay khấu trừ bất kỳ khoản chi phí nào vào giá trị thi công công trình.

Tại đơn khởi kiện ngày 14/11/2022 nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 5.431.371.000 đồng tiền lãi do chậm thanh toán.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền chậm thanh toán 1.264.172.138 đồng, buộc Công ty T5 thanh toán toàn bộ tiền lãi chậm trả theo Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019 tính đến ngày 04 tháng 11 năm 2022 là 4.167.198.862 đồng.

* Trong các bản khai và các biên bản của Tòa án, người đại diện hợp pháp của bị đơn thống nhất trình bày:

Ngày 29 tháng 6 năm 2022 nguyên đơn và bị đơn đã đạt được thỏa thuận về việc bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc theo Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE là 49.367.980.544 đồng cho nguyên đơn đến trước ngày 31 tháng 8 năm 2022, đồng thời nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất số tiền lãi chậm trả (10%/năm) sẽ được giải quyết sau. Bị đơn sau đó đã có nhiều văn bản đề nghị nguyên đơn không tính tiền lãi chậm trả của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE, nhưng nguyên đơn không đồng ý và vẫn tiến hành khởi kiện đòi tiền lãi chậm trả, ý kiến bị đơn như sau:

Qua quá trình thi công, nghiệm thu và thực hiện thanh toán, quyết toán các hạng mục công trình, giữa nguyên đơn và bị đơn đã có sự không thống nhất về hồ sơ thanh toán, quyết toán.

Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn “Thanh toán toàn bộ tiền lãi chậm trả (10%/năm) theo Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019 cho nguyên đơn với số tiền tạm tính đến ngày 04 tháng 11 năm 2022 là 5.431.371.000 đồng”, bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn bởi lẽ:

Thứ nhất: Căn cứ biên bản họp ngày 22 tháng 6 năm 2022 về việc giải quyết các tồn tại của hồ sơ thanh toán đợt 12 và hồ sơ quyết toán Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE của nhà thầu REE thì đoàn tư vấn giám sát Texo có yêu cầu nhà thầu REE đến làm việc để hoàn thiện hồ sơ tuy nhiên REE vẫn chưa cho người tới để phối hợp hoàn thiện hồ sơ. Đến ngày 08 tháng 9 năm 2022, bị đơn mới nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ có xác nhận đầy đủ của các bên bao gồm cả tư vấn giám sát Texo, do đó theo quy định của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE thì thời hạn để bị đơn thanh toán cho nguyên đơn là ngày 20 tháng 9 năm 2022, tuy nhiên bị đơn đã thanh toán ngay vào ngày 08 tháng 9 năm 2022, sớm 12 ngày so với quy định của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE. Do đó, bị đơn không đồng ý việc nguyên đơn tính lãi chậm thanh toán cho phần quyết toán của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE.

Thứ hai: Căn cứ biên bản cuộc họp ngày 15 tháng 9 năm 2020 giữa các nhà thầu về việc phân chia chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm phục vụ thi công của tòa S1 dự án S thì các nhà thầu đã thống nhất tỷ lệ % giá trị đầu tư hệ thống điện nước tạm phục vụ thi công như nêu tại biên bản cuộc họp. Trong đó, nhà thầu REE sẽ chịu chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm là 30,914% giá trị hợp đồng tương đương 1.264.828.365 đồng chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm này sẽ được khấu trừ vào đợt thanh toán liền kề sau khi ban điều hành dự án thông báo chi phí đến các nhà thầu. Bị đơn đã thanh toán tất cả khoản nợ gốc theo Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE cho nguyên đơn mà chưa khấu trừ khoản tiền đầu tư hệ thống điện nước tạm 1.264.828.365 đồng. Do đó, bị đơn đề nghị khấu trừ khoản chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm phục vụ thi công là 1.264.828.365 đồng vào tiền lãi.

Thứ ba: Căn cứ văn bản số 118REEM&E của nguyên đơn gửi bị đơn về việc làm rõ khối lượng thanh toán đợt 12 thì nguyên đơn đã cam kết sẽ giảm trừ các hạng mục nguyên đơn không thực hiện vào hồ sơ quyết toán. Theo đó, căn cứ vào bảng tính khối lượng giảm trừ hệ MEP thì khối lượng nguyên đơn không thực hiện là 2.459.593.714 đồng. Do đó, bị đơn đề nghị khấu trừ lại khối lượng công việc nguyên đơn chưa thực hiện tương đương 2.459.593.714 đồng vào tiền lãi.

Đối với số tiền lãi chậm thanh toán của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE nguyên đơn yêu cầu là 5.431.371.000 đồng, bị đơn xác nhận tiền lãi chậm thanh toán đợt thanh toán số 10 và 11 là đúng, tổng cộng là 4.112.108.000 đồng. Đối với tiền lãi của đợt thanh toán đến 95% giá trị hoàn thành và thanh toán đến 95% giá trị quyết toán bị đơn không đồng ý với ngày bắt đầu tính lãi theo như trình bày của nguyên đơn. Số tiền lãi chậm thanh toán của hai đợt này theo tính toán của bị đơn là 55.090.862 đồng.

Như vậy tổng số tiền lãi bị đơn còn nợ nguyên đơn của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019 là 4.167.198.862 đồng. Bị đơn đề nghị nguyên đơn trừ đi số tiền chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm là 1.264.828.365 đồng và khối lượng giảm trừ hệ MEP nguyên đơn không thực hiện là 2.459.593.714 đồng, bị đơn sẽ có trách nhiệm thanh toán số còn lại.

Tại phiên tòa, bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, xác định số tiền lãi chậm trả cho bốn đợt thanh toán chậm trả của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019 là 4.167.198.862 đồng. Bị đơn không yêu cầu phản tố trong vụ án đối với hai yêu cầu cấn trừ tiền chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm và khối lượng giảm trừ hệ MEP nguyên đơn không thực hiện, do bị đơn không đủ thời gian để thu thập chứng cứ chứng minh.

Bản án kinh doanh thương mại số 55/2023/KDTM-ST ngày 16/5/2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 5160/2023/QĐ-SCBSBA ngày 14/6/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 200, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 306 Luật Thương mại; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc Công ty Cổ phần T5 trả cho Công ty Cổ phần D R.E.E số tiền lãi chậm trả của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019, số tiền là 4.167.198.862 đồng.

2. Đình chỉ giải quyết phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn trả số tiền lãi chậm trả là 1.264.172.138 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Công ty Cổ phần T5 phải chịu 112.167.199 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

H2 lại cho Công ty Cổ phần D R.E.E số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.715.686 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0004949 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 30/5/2023 Công ty T5 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng quy định tại Khoản 3 Điều 53 và điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị hủy án sơ thẩm.

Ngày 31/5/2023 Công ty D kháng cáo một phần bản án sơ thẩm lý do yêu cầu phúc thẩm buộc bị đơn trả 5.011.393.000 đồng tiền lãi chậm thanh toán.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như xác định tại phiên tòa sơ thẩm. Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị y án sơ thẩm. Rút lại đơn kháng cáo.

Bị đơn đại diện Công ty T5 yêu cầu giải quyết theo nội dung đơn kháng cáo và yêu cầu tòa án giải quyết về việc cấn trừ tổng cộng 3.724.422.079 tiền chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm và khối lượng giảm trừ hệ MEP nguyên đơn chưa thực hiện. Bị đơn đề nghị hủy Bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 14/11/2022 của nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là “Tranh chấp tiền lãi chậm trả của Hợp đồng thiết kế và xây dựng công trình”.

Tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện, Công ty T5 có trụ sở tại Tầng A, Tòa nhà D, số C đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn, nguyên đơn kháng cáo Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nên thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo điểm b khoản 3 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đơn kháng cáo của bị đơn - Công ty T5 và của nguyên đơn – Công ty D làm trong hạn luật định và đã làm thủ tục kháng cáo đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút lại yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận nguyên đơn rút kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 298 Bộ luật tố tụng dân sự, Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn là Công ty T5: Bị đơn cho rằng thẩm phán cấp sơ thẩm trước đây đã giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 118/2022/QĐST-KDTM ngày 07/7/2022 lại tiếp tục ban hành Bản án số 55/2023/KDTM-ST ngày 16/5/2023 là vi phạm khoản 3 Điều 53 và điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 05/5/2022 Nguyên đơn có khởi kiện bị đơn tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh “Tranh chấp hợp đồng thiết kế thi công” cụ thể là Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019.

Ngày 29/6/2022, nguyên đơn và bị đơn đã đạt được thỏa thuận về việc bị đơn có trách nhiệm thanh toán nợ gốc theo Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23/7/2019 là 49.367.980.544 đồng cho nguyên đơn đến trước ngày 31/8/2022, tiền lãi chậm trả sẽ được giải quyết sau.

Theo đó, Tòa án Quận 1 đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 118/2022/QĐST-KDTM ngày 07/7/2022 công nhận tiền nợ gốc của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019 là 49.367.980.544 đồng .... Các bên thống nhất số tiền lãi chậm trả (10%/năm) của hợp đồng sẽ được giải quyết sau.

Quyết định công nhận này do Thẩm phán Ngô Thị Phúc H3 ký ban hành. Phần tiền gốc theo quyết định này 02 bên đã thi hành xong.

Do các bên không thống nhất giải quyết đối với phần tiền lãi chậm trả nên ngày 14/11/2022, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Quận A, về việc yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán theo Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23/7/2019 của bốn đợt thanh toán chậm trả, tạm tính đến ngày 04/11/2022 với số tiền lãi là 5.431.371.000 đồng. Theo đó, Tòa án Quận 1 đã thụ lý vụ kiện “Tranh chấp tiền lãi chậm trả của Hợp đồng thiết kế và xây dựng công trình” và phân công Thẩm phán Ngô Thị Phúc H3 giải quyết và ban hành Bản án số 55/2023/KDTM-ST ngày 16/5/2023.

Ngày 30/5/2023, bị đơn kháng cáo Bản án số 55/2023/KDTM-ST ngày 16/5/2023 theo hướng hủy án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng quy định tại Khoản 3 Điều 53 và điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng thiết kế thi công” giữa nguyên đơn và bị đơn đã được Thẩm phán Ngô Thị Phúc H3 giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 118/2022/QĐST-KDTM ngày 07/7/2022 thì chỉ giải quyết việc công nhận thỏa thuận nợ gốc theo Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23/7/2019 là 49.367.980.544 đồng. Các bên thống nhất lãi chậm trả sẽ được giải quyết sau.

Tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự xác nhận lãi chậm thanh toán chưa được giải quyết cũng như trong Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 118/2022/QĐST-KDTM xác định các bên thống nhất số tiền lãi chậm trả sẽ được giải quyết sau. Vậy Thẩm phán H3 trước đây không giải quyết về tiền lãi chậm thanh toán.

Xét khoản tiền lãi theo thỏa thuận tại khoản 7 .4.2; khoản 7.5 Điều 7 và khoản 14.3 Điều 14 của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23/7/2019 ghi nhận thời hạn thanh toán, giá trị thanh toán và phạt chậm thanh toán “...bên chậm thanh toán sẽ bị phạt theo lãi suất 10%/năm trên số tiền và số ngày chậm thanh toán".

Tại phiên tòa sơ thẩm số tiền lãi chậm trả nguyên đơn, bị đơn thống nhất trong Bản án sơ thẩm số 55/2023/KDTM-ST là 4.167.198.862 đồng, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chi tiết số tiền gốc chậm trả và số ngày vi phạm thì tiền lãi chậm trả mà hai bên đương sự thống nhất trên tương ứng với mức lãi suất 7,67%/năm không phải mức lãi suất 10%/năm như các đương sự đã thỏa thuận trong hợp đồng hay Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 118/2022/QĐST-KDTM ghi nhận.

Như vậy, cùng là Thẩm phán Ngô Thị Phúc H3 giải quyết nhưng đây là 2 vụ án có tranh chấp độc lập khác nhau (01 vụ giải quyết về tiền nợ gốc + và 01 vụ giải quyết về tiền lãi do chậm thanh toán), không phải giải quyết chính quan hệ tranh chấp của vụ án trước đây (giải quyết tiền nợ gốc), do đó không vi phạm Khoản 3 Điều 53 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác trước đây chưa giải quyết tiền lãi nên không thể xác định sự việc đã được giải quyết theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự như bị đơn trình bày. Do đó không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo về vi phạm tố tụng của bị đơn

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện bị đơn yêu cầu tòa án giải quyết về việc cấn trừ tổng cộng 3.724.422.079 tiền chi phí đầu tư hệ thống điện nước tạm và khối lượng giảm trừ hệ MEP nguyên đơn không thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này tại cấp sơ thẩm bị đơn không phản tố, cấp sơ thẩm không xét nên không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Cấp sơ thẩm áp dụng “ Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015” là chưa phù hợp do đây là vụ án kinh doanh thương mại nên thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật thương mại không áp dụng Bộ luật dân sự theo hướng dẫn Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại: “Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả”

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

Yêu cầu kháng cáo của Công ty T5 không được chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Công ty T5 phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Công ty Cổ phần D R.E.E rút yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308, Điều 312, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần Tập đoàn Sunshine Sài Gòn
  2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần D.
  3. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 55/2023/KDTM-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    2. Buộc Công ty Cổ phần T5 trả cho Công ty Cổ phần D R.E.E số tiền lãi chậm trả của Hợp đồng số 219/2019/HĐ-SSG-REE ngày 23 tháng 7 năm 2019 là 4.167.198.862 đồng (Bốn tỷ một trăm sáu mươi bảy triệu một trăm chín mươi tám ngàn tám trăm sáu mươi hai đồng).
  4. Đình chỉ giải quyết phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần D R.E.E đòi Công ty Cổ phần T5 trả số tiền lãi chậm trả là 1.264.172.138 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi bốn triệu một trăm bảy mươi hai ngàn một trăm ba mươi tám đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

  1. Về án phí:
    1. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Cổ phần T5 phải chịu 112.167.199 đồng (Một trăm mười hai triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm chín mươi chín đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    2. H2 lại cho Công ty Cổ phần D R.E.E số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.715.686 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm mười lăm ngàn sáu trăm tám mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0004949 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
    4. Công ty Cổ phần T5 phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0043649 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần T5 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

      Công ty Cổ phần D R.E.E phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0043632 ngày 06 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần D đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự đã sửa đổi bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục THA DS TPHCM;
  • - Chi cục THA DS Quận 1;
  • - TAND Quận 1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Bích Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/KDTM-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tiền lãi chậm trả của hợp đồng thiết kế và xây dựng công trình

  • Số bản án: 04/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền lãi chậm trả của Hợp đồng thiết kế và xây dựng công trình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger