|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 04/2024/HS-ST Ngày 11/01/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Giáp Quang Huy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Sửu – Sỹ quan Quân đội nghỉ hưu.
- Bà Cáp Thị Quyên - Bí thư Đoàn thanh niên xã Hợp Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Tòa án huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Hà Đăng Chương - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 11/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2023/TLST-HS ngày 30/11//2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2023/QĐXXST-HS ngày 22/12/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/HSST-QĐ ngày 05/01/2024, đối với các bị cáo:
- Trần Ngọc A, sinh ngày 21/9/2005; tên gọi khác: Không; (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 01 ngày); nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc D, sinh năm 1981 và bà: Đỗ Thị Bích H, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 22/8/2023 đến ngày 31/8/2023 được tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Trần Thanh M, sinh ngày 27/8/2006; tên gọi khác: Không (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 26 ngày); nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Trọng Đ, sinh năm 1976 và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1976; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ từ ngày 22/8/2023 đến ngày 31/8/2023 được tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Ngọc A:
Bà Đỗ Thị Bích H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang, là mẹ của bị cáo (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc A:
Luật sư Trần Văn A1 và Luật sư - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (vắng mặt).
Luật sư Nguyễn Thị H1 - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Thanh M:
Ông Trần Trọng Đ, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, là bố của bị cáo (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh M:
Luật sư Trần Văn A1 - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (vắng mặt).
Luật sư Nguyễn Thị H1 - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Đại diện Đoàn T3 xã Đ:
Ông Nguyễn Văn D1 (có mặt).
- Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã T3:
Bà Nguyễn Thị T (có mặt).
- Đại diện Trường Trung học Phổ thông N2: Xin vắng mặt tại.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đinh Tiến B, sinh năm 1993; nơi cư trú: Số C, đường T, phường B, Quận T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
Anh Nguyễn Đăng N, sinh ngày 27/5/2006; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người đại diện của anh Nguyễn Đăng N:
Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, là bố đẻ của anh N (vắng mặt).
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1968 (vắng mặt).
- Người chứng kiến:
Bà Đỗ Thị H3, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Ông Đỗ Biên T1, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1960 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 22/8/2023, tại cửa hàng nước giải khát M, thuộc thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện T phối hợp với Công an xã Q, huyện T kiểm tra, bắt quả tang Trần Thanh M, sinh ngày 27/8/2006, trú tại thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang có hành vi mua bán trái phép chất tinh dầu cần sa nghi là ma túy; vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:
Thu trên mặt ghế nhựa trong cửa hàng nước cạnh chỗ M ngồi 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, bên trong có 01 lọ nhựa màu trắng, nắp màu đen, đựng chất lỏng màu hồng nhạt nghi là ma túy; 01 lọ nhựa màu trắng, nút nhựa màu trắng và nắp màu đen, bên trong bám dính chất lỏng nghi là ma túy; 13 lọ nhựa màu trắng không có nắp, không chứa gì; 13 nắp nhựa màu đen; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng 13 nút nhựa màu trắng. Tất cả vật chứng được niêm phong trong 01 hộp giấy ký hiệu “QT”. Trần Thanh M tự giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI 357271098606649, lắp sim 0866.899.016 được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “ĐT M”; 01 xe đạp điện màu đỏ đen đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe.
Ông Nguyễn Văn M1 là chủ cửa hàng G giao nộp 01 file dữ liệu có tên “VIDEO DOWLOAD”, 01 file dữ liệu có tên “VIDEO DOWLOAD”. Hai file dữ liệu trên được Cơ quan điều tra Công an huyện T lưu vào 01USB màu bạc, nhãn hiệu Kingstone được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “USB”.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của M, kết quả: Không thu giữ đồ vật gì liên quan.
Trần Thanh M khai: Nguồn gốc lọ nhựa màu trắng, bên trong đựng chất lỏng màu hồng nhạt mà Công an thu giữ là tinh dầu cần sa, M ý thức là chất ma túy sử dụng để hút thuốc lá điện tử, nên M mua của Trần Ngọc A để bán lại cho Nguyễn Văn N1 kiếm lời chỉ tiêu cá nhân.
Căn cứ lời khai của Trần Thanh M, ngày 22/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Ngọc A, kết quả:
Thu giữ 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật màu cam, nắp hộp có chữ “HERMES PARIS”, bên trong có 103 lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng, bên trong có các lọ đều chứa chất lỏng màu trắng đục; 02 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu đen, bên trong các lọ đều chứa chất lỏng màu trắng đục; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp nhựa màu đen dạng nắp xoáy, bên trong chứa dung dịch trong suốt; 01 lọ nhựa màu trắng, nắp đậy màu đen dạng nắp xoáy bên trong chứa dung dịch màu trắng đục; 02 chai nhựa màu trắng bên trong không có gì; 02 nắp xoáy bằng nhựa màu đen; 01 ca nhựa màu trắng có chứa dung dịch trong suốt; 01 lọ nhựa màu trắng, nắp đậy màu trắng, trên nắp có đầu vòi hở, bên trong chứa dung dịch màu trắng đục; 01 can nhựa màu trắng 02 lít, có nắp đậy màu đỏ; vỏ can có chữ “Đào” màu đen bên trong có chứa chất lỏng; 01 vật bằng nhựa màu xanh dài 12,5cm bên ngoài có chữ “micko cloud" màu đen; 01 lọ nhựa màu trắng, bên trong chứa chất lỏng màu trắng đục, nắp đậy màu trắng; 01 hộp bìa cattong bên ngoài có chữ “Bến xe Nhã Nam Tân Y- Bắc Giang 0379.291.358 Ngọc A”, bên trong hộp có 01 lọ nhựa màu trắng; nắp đậy màu trắng, bên trong có bám dính chất lỏng. Tất cả vật chứng trên được niêm phong trong một thùng bìa catton dán kín dải niêm phong có chữ ký của những người tham gia, đóng dấu công an xã Đ, ký hiệu “KX”. Ngoài ra còn thu giữ 01 gậy rút ba khúc, tay cầm màu đen, phần thân bằng kim loại, trên gậy có chữ “SHY BATON XC-26”.
Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại thu giữ của Anh và của M, kết quả: Tài khoản tên Trần Ngọc A, tài khoản tên Tiến B có tin nhắn trao đổi, mua bán tinh dầu cần sa. Tài khoản của Trần Thanh M có tin nhắn qua messeger, nội dung trao đổi mua bán tinh dầu cần sa với Trần Ngọc A.
Ngày 23/8/2023; Cơ quan điều tra Công an huyện T trưng C1 Bộ C2 giám định vật chứng thu giữ được niêm phong ký hiệu “QT” và “KX” có phải là ma túy không, loại ma túy gì, thể tích bao nhiêu.
Tại kết luận giám định số 6234 ngày 29/8/2023 của V Bộ C2, kết luận: Các mẫu ký hiệu M1.1, M1.2, M2.1, M2.2, M2.8, M 2.9, M2.12 đều có chứa chất MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA là chất thuộc nhóm cần sa tổng hợp, đều có tác dụng gây ảo giác tương tự chất ma túy Delta-9-tetrahydrocanabinol có trong cần sa thực vật, hiện không nằm trong các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy theo quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Khối lượng mẫu M2.11 là 39,21 gam. Không tìm thấy chất ma túy trong các mẫu được niêm phong ký hiệu ‘QT” và “KX” gửi giám định.
Ngày 31/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định file video thu giữ.
Tại kết luận giám định số 2139/KL- KTHS ngày 2/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 file video được lưu trữ trong USB gửi giám định; trích xuất được 14 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong file video gửi giám định.
Quá trình điều tra, Trần Ngọc A khai nhận: Do xem trên facebook thấy nick tên “Tiến Bắc” có giao bán tinh dầu “CPD”, Anh biết đó là tinh dầu cần sa, nghĩ là chất ma túy dùng để sử dụng cho hút thuốc lá điện tử nên tối ngày 19/8/2023, Anh nhắn tin cho nick “Tiến Bắc” qua Messenger của Đinh Tiến B, ở T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội hỏi mua tinh dầu cần sa. Qua trao đổi, B giới thiệu tinh dầu cần sa bán sẽ bao test giám định. Anh hiểu tinh dầu cần sa Bắc bán là chất ma túy dùng cho thuốc lá điện tử, nên Anh đặt mua 100ml tinh dầu cần sa “CPD” với giá 5.400.000 đồng; tinh dầu thường với giá 400.000 đồng và 1.200.000 đồng dụng cụ sang triết ma túy. B đồng ý. Anh sử dụng tài khoản 0969.748.708 tại Ngân hàng M2 chuyển 7.000.000 đồng vào tài khoản 845888888888 của Đinh Tiến B tại Ngân hàng T4, đồng thời Anh cho B địa chỉ của A để B đóng gói gửi về cho Anh qua xe khách tuyến N- M.
Đến ngày 20/8/2023, Anh nhận được số hàng Bắc gửi, sau khi nhận hàng Anh mang về nhà pha loãng tinh dầu cần sa và tinh dầu thường rồi triết vào các lọ nhỏ cất giấu trong phòng, mục đích có ai hỏi mua thì bán kiếm lời, đồng thời Anh đăng rao bán tinh dầu “Chill” “Chill” trên trang cá nhân của mình, đến ngày 22/8/2023 Anh bán cho M 01 lọ tinh dầu cần sa “Chill” “Chill”.
Quá trình điều tra Trần Thanh M khai nhận: Ngày 20/8/2023, M nhận được cuộc gọi qua messenger của Nguyễn Đăng N hỏi mua ma túy dạng tinh dầu “Chill” và nhờ M mua hộ một số lọ nhựa cỡ nhỏ để sang chiết tinh dầu cần sa; M hiểu N hỏi mua tinh dầu cần sa có chứa ma túy dùng để hút thuốc lá điện tử nên đồng ý. Sau đó, M gọi điện thoại qua messenger cho Trần Ngọc A hỏi mua tinh dầu cần sa, Anh bảo giá 1.800.000 đồng/100ml, M mặc cả giá là 1.700.000 đồng/100ml, Anh đồng ý bảo khi nào có sẽ mang cho M. Sau đó, M báo giá cho N là 2.000.000 đồng/100ml, nhưng hiện tại phải đợi. Đến khoảng 13 giờ ngày 22/8/2023, M nhắn tin cho A bảo Anh giao hàng (ý là giao tinh dầu cần sa có chứa chất ma túy) cho M. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Anh mang 01 lọ tinh dầu cần sa có đặc điểm lọ nhựa màu trắng có lắp đậy màu đen, bên trong đựng dung dịch màu hồng nhạt đến giao cho M tại nhà của M, M biết đó là tinh dầu cần sa có chứa ma túy nên cầm và nói khi nào bán được thì sẽ trả tiền cho A; A đồng ý và đi về. Sau đó, M nhắn tin hẹn N đến quán N3 ở thôn C, xã Q, huyện T để nhận; M vào nhà lấy 14 lọ nhựa và 14 nắp nhựa màu đen cùng 14 núm nhựa mà M mua trên mạng từ trước đem bán cho N.
Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, M ra quán nước giải khát Minh B2 gặp N. Tại đây, M đưa cho N túi nilon đựng lọ nhựa chứa tinh dầu cần sa và các lọ nhựa, nắp nhựa và nút nhựa dùng để sang triết cho N. Sau đó, N lấy một lọ nhựa rỗng, đổ một ít tinh dầu cần sa vào, rồi đậy nút lại, nhỏ vào thuốc lá điện tử (gọi là P) mà N mang theo và bảo M để N mang cho khách thử rồi quay lại trả tiền và lấy tinh dầu cần sa, N vẫn để lọ tinh dầu cần sa và các lọ nhựa rỗng ở trên ghế nhựa gần chỗ M ngồi rồi điều khiển xe mô tô đi. Đến khoảng 15 giờ 10 phút thì lực lượng Công an huyện T vào bắt quả tang M về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Cơ quan điều tra đã đấu tranh với Đinh Tiến B, B thừa nhận có bán tinh dầu cho Anh nhưng B khẳng định bên trong tinh dầu không có ma túy, B không giới thiệu với Anh là tinh dầu có chứa chất ma túy; do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với B.
Cơ quan điều tra đã đấu tranh với Nguyễn Đăng N, N chỉ thừa nhận hỏi mua tinh dầu thường để hút thuốc lá điện tử, N không hỏi mua tinh dầu cần sa có chứa chất ma tuy, khi gặp thì M giới thiệu cho N biết đó là tinh dầu cần sa nên N không mua nữa. Cơ quan điều tra cho M đối chất với N nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của M không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh việc N biết đó là tinh dầu cần sa hay nghĩ đó là tinh dầu có chứa chất ma túy, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với N.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng được là điện thoại của Trần Thanh M; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng là điện thoại của Trần Ngọc A. Hai chiếc điện thoại này A và M sử dụng để liên lạc mua bán tinh dầu cần sa với nhau.
Chiếc xe đạp điện màu đỏ đen cùng chìa khóa là xe đạp của bố, mẹ M cho M mượn sử dụng làm phương tiện đi lại, bố mẹ M không biết M sử dụng chiếc xe trên đi bán tinh dầu cần sa, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Đại bố đẻ M.
Chiếc gậy rút ba khúc bằng kim loại, có chữ SHY BATON XC-26, Anh khai đặt mua trên mạng xã hội để trưng bày (không nhớ địa chỉ trang Web bán hàng) có dấu hiệu vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an huyện T để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Ngọc A và Trần Thanh M khai nhân toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 29/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Trần Ngọc A, Trần Thanh M về tội mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc A, Trần Thanh M đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tôi của mình như cáo trạng truy tố.
Đại diện hợp pháp của bị cáo A, bà Đỗ Thị Bích H trình bầy: Bà xác nhận lời khai của bị cáo A tại phiên tòa đúng như lời khai của bị cáo A tại Cơ quan điều tra nên bà không có ý kiến gì. Do tại thời điểm phạm tội bị cáo A chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức về mà túy còn hạn chế, vì vậy bà mong Hội đồng xét xử xem xét xử cho bị cáo A mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành người tốt và tiếp tục được đi học.
Đại diện hợp pháp của bị cáo M, ông Trần Trọng Đ trình bầy: Ông xác nhận lời khai của bị cáo M tại phiên tòa đúng như lời khai của bị cáo M tại Cơ quan điều tra nên ông không có ý kiến gì. Do tại thời điểm phạm tội bị cáo M chưa đủ 17 tuổi nên nhận thức về mà túy còn hạn chế, vì vậy mong Hội đồng xét xử xem xét xử cho bị cáo M mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành người tốt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo A và bị cáo M trình bầy: Hành vi mua bán tinh dầu cần sa mà các bị cáo nhận thức là chất ma túy sử dụng cho thuốc lá điện tử là hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát huyện T truy tố các bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên các bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành nên nên nhận thức về pháp luật và tác hại của ma túy còn hạn chế. Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự để xét xử cho bị các bị cáo mức án nhẹ nhất và cho các bị cáo hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội cải tạo thành người lương thiện, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Do các bị cáo là người chưa thành niên, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã T3 trình bầy: Bị cáo Anh là thanh niên sinh hoạt Đoàn tại xã X đã phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nên nhận thức về pháp luật và tác hại của ma túy còn hạn chế, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của pháp luật để xử cho bị cáo Anh mức án nhẹ nhất và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành người lương thiện, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã T3: Bị cáo M là thanh niên sinh hoạt Đoàn tại xã Q đã phạm tội khi chưa đủ 17 tuổi, nên nhận thức về pháp luật và tác hại của ma túy còn hạn chế, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của pháp luật để xử cho bị cáo M mức án nhẹ nhất và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành người lương thiện, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát trình bầy luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố đối với Trần Ngọc A, Trần Thanh M về tội mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 91, Điều 101, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc A từ 20 tháng tù đến 22 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 22/8/2023 đến ngày 31/8/2023, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 65, Điều 91, Điều 101, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Xử phạt bị cáo Trần Thanh M từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 36 tháng đến 40 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/01/2024. Giao bị cáo Trần Thanh M cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy được niêm phong bằng hình dấu của V Bộ C2 và chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong, bên trong có các vật chứng, đồ vật được hoàn lại sau giám định như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2023.
Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, có số IMEI356696088366377, lắp sim số 0379.291.358 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, có số IMEI 357271098606649, lắp sim số 0866.899.016, thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2023.
Án phí: Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, Luật sư bào chữa cho các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến tranh luận gì về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều mong Hội đồng xét xử, xử cho bị các bị cáo mức án nhẹ nhất và cho các bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không ai có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 22/8/2023, tại quán G1 thuộc khu C, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã Q bắt quả tang Trần Thanh M có hành vi bán trái phép 01 lọ dung dịch chất lỏng thuộc nhóm cần sa tổng hợp cho Nguyễn Đăng N với giá 2.000.000 đồng/100ml. Nguồn gốc lọ tinh dầu cần sa nêu trên do Trần Thanh M mua của Trần Ngọc A ngày 22/8/2023 với giá 1.700.000 đồng/100ml. Anh và M đều ý thức lọ dung dịch chất lỏng thuộc nhóm cần sa tổng hợp là ma túy dùng để hút thuốc lá điện tử nên mua bán, mục đích để kiếm lời chi tiêu cá nhân.
Tại Kết luận giám định số 6234 ngày 29/8/2023 của V Bộ C2, kết luận: Các mẫu gửi giám định ký hiệu M1.1, M1.2, M2.1, M2.2, M2.8, M2.9, M2.12 đều có chứa chất MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA là các chất thuộc nhóm cần sa tổng hợp, đều có tác dụng gây ảo giác tương tự chất ma túy Delta-9-tetrahydrocanabinol có trong cần sa thực vật, hiện không nằm trong các danh mục chất ma túy và tiền chất theo quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Khối lượng mẫu M2.11 là 39,21 gam. Không tìm thấy chất ma túy trong các mẫu được niêm phong ký hiệu ‘QT” và “KX” gửi giám định. Song tại điểm d khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015, hướng dẫn áp dụng một số quy định về các tội phạm về ma túy, quy định: “.....Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy”.
Hành vi mua bán chất MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA là các chất thuộc nhóm cần sa tổng hợp mà các bị cáo thực hiện tuy không nằm trong các danh mục chất ma túy và tiền chất theo quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ, nhưng các bị cáo ý thức rằng chất đó là chất ma túy dùng sử dụng cho thuốc lá diện tử. Tại thời điểm thực hiện hành vi các bị cáo trên 16 tuổi và là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố các bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Đánh vai trò của các bị cáo: Bị cáo Trần Ngọc A mua tinh dầu cần sa của Đinh Tiến B về sang triết thành nhiều lọ nhỏ và giao bán công khai trên trang mạng cá nhân của mình; ngày 22/8/2023, Anh bán 01 lọ tinh dầu cần sa cho Trần Thanh M với giá 1.700.000 đồng/100ml, nên bị cáo A giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Trần Thanh M mua tinh dầu cần sa của bị cáo A và bán lại cho Nguyễn Văn N1 với giá 2.000.000 đồng/100ml mục đích để kiếm lời, nên bị cáo M giữ vai trò thứ hai trong vụ án.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Ngọc A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, bị cáo có thành tích trong học tập được tặng thưởng giấy khen, ông nội bị cáo là người có công với nhà nước được tặng thưởng huy chương kháng chiến. Bị cáo Trần Thanh M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thành tích trong học tập được tặng thưởng giấy khen, ông nội bị cáo là người có công với nhà nước được tặng thưởng huy chương kháng chiến. Do đó, cả hai bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người lương thiện.
Bị cáo Trần Ngọc A là người giữ vai trò chính trong vụ án; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 01 ngày, trình độ học vấn 12/12, do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với vai trò và tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Song, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên, nên áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được áp dụng nhiều tình tiết để giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
Bị cáo Trần Thanh M là người giữ vai trò thứ hai trong vụ án; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 11 tháng 26 ngày, trình độ học vấn 9/12, tại thời điểm xét xử bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên cần áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, nên chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách tương ứng và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành người lương thiện.
Do các bị cáo là người chưa thành niên, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy được niêm phong bằng hình dấu của V Bộ C2 và chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong, bên trong có các vật chứng được hoàn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, sử dụng và các đồ vật không có giá trị và tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, có số IMEI 356696088366377, lắp sim số 0379.291.358 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, có số IMEI 357271098606649, lắp sim số 0866.899.016, vì sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy, được giao nhận trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2023.
[7] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, khoản 1 Điều 251, Điều 38, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc A 02 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 22/8/2023 đến ngày 31/8/2023, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ, khoản 1 Điều 251, Điều 65, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Xử phạt bị cáo Trần Thanh M 01 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/01/2024. Giao bị cáo Trần Thanh M cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
3. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy được niêm phong bằng hình dấu của V Bộ C2 và chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong, bên trong có: 01 lọ nhựa màu trắng, đậy kín bằng nắp màu đen; 01 lọ nhựa màu trắng, đậy kín bằng nút nhựa màu trắng và nắp màu đen; 13 lọ nhựa mầu trắng không có nắp, bên trong không chứa gì; 13 nắp lọ mầu đen; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; 13 nút nhựa màu trắng; 01 hộp niêm phong, tại mép có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có dòng chữ “Mẫu vật hoàn lại theo Kết luận giám định số: 6234/KL-KTHS ngày 29/8/2023 của C09/Bộ Công an”, các hình dấu đỏ của V Bộ C2 và chữ ký hộ tên Hoàng Thế T2, Nguyễn Ngọc D2, bên trong có: 83 ml chất lỏng đượng trong lọ nhựa (ký hiệu M1), 463,5 ml chất lỏng và 103 lọ đựng mẫu (ký hiệu M2.1), 132,5 ml chất lỏng và 02 lọ đựng mấu (ký hiệu M2.2), 271,0 ml chất lỏng và 01 lọ đựng mẫu (ký hiệu M2.3), 17,5 ml chất lỏng và 01 lọ đựng mấu (ký hiệu M2.4), 01 lọ nhựa mầu trắng, không đậy nắp, bên trong không chứa gì (ký hiệu M2.5), 02 nắp nhựa mầu đen (ký hiệu M2.6), 4,5 ml chất lỏng và 01 ca nhựa đựng mấu (ký hiệu M2.7), 6,0 ml chất lỏng và 01 lọ đựng mấu (ký hiệu M2.8), 3,0 ml chất lỏng và 01 lọ đựng mấu (ký hiệu M2.9), 341,5 ml chất lỏng và 01 ca nhựa đựng mấu (ký hiệu M2.10), 37,5 gam vật bằng nhựa mầu xanh (ký hiệu M2.11), 01 lọ nhựa (ký hiệu M2.12).
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 phong bì ký hiệu “ĐT Trần Ngọc A” được niêm phong bằng hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng đã qua sử dụng, có số IMEI: 356696088366377, lắp sim số 0379.291.358. 01 phong bì ký hiệu “ĐT Mai” được niêm phong bằng hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, có số IMEI: 357271098606649, lắp sim số 0866.899.016.
4. Án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, Luật sư bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết công khai bản án.
6. Trường hợp hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Giáp Quang Huy |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc A và Trần Thanh M tội mua bán trái phép chất ma túy
