Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 04/2024/HS-ST

Ngày: 11-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Chính
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trọng Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 305/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 205/2023/HSST-QĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Xuân V. Sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở: E D, khu phố F, phường H, Quận A, TP .; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Xuân T và bà: Nguyễn Thái B; Vợ: Nguyễn Thị H và 01 con (sinh năm 2005); Nhân thân: Ngày 22/9/2011 bị Tòa án nhân dân Quận 12, TP. Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 190/2011/HSST, đã chấp hành xong bản án ngày 30/8/2016; Tiền án: Ngày 03/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 94/2020/HSST, đã chấp hành xong bản án ngày 12/11/2021; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 08/6/2023 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Xuân V nghiện heroin, đã bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”, chưa được xóa án tích. Mãn hạn tù, V tái nghiện heroin và thường mua heroin của một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực bãi đất trống đổi diện nông trường thuộc xã P, huyện B, TP. đem về nhà cất giấu, sử dụng. Vò khoảng 10 giờ ngày 01/4/2023, V đón xe buýt từ Quận A đến Bến xe A rồi đi nhờ xe đến địa chỉ trên mua của một người đàn ông 01 tép heroin với giá 100.000 đồng, sau đó V tìm nơi vắng vẻ sử dụng một ít, số còn lại V cất trong bao thuốc lá Saigon màu bạc rồi bỏ trong túi quần bên trái phía trước. V tìm xe đi nhờ đến trước cây xăng số 61 P, xã X, huyện H thì gặp Vì Tuấn L (sinh năm 1993, nơi thường trú: xóm N, xã N, huyện M, tỉnh Hòa Bình) điều khiển xe máy biển số 29U6-1809 và tiếp tục xin đi nhờ đến Ngã tư T thì L đồng ý. Khi đến trước nhà số B ấp H, xã B, huyện H thì V bị tổ công tác 363 thuộc Công an T1 nghi vấn yêu cầu dừng xe kiểm tra. Công an phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên trái V đang mặc 01 bao thuốc lá hiệu Saigon bạc bên trong có 01 dao lam, 01 hộp quẹt gas, 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất bột màu trắng (ký hiệu mẫu m), 01 ĐTDĐ Mobiistar màu đen.

Tiến hành khám xét nơi ở của V tại địa chỉ E D, khu phố F, phường H, Quận A, TP. không phát hiện thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số: 3167/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng K - Công an T2 kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa là ma túy ở thể rắn, loại heroine, khối lượng 0,0309g.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, V khai nhận hành vi phạm tội như trên đã nêu.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất bột màu trắng.
  • 01 bao thuốc lá Saigon bạc, 01 lưỡi dao lam, 01 hộp quẹt gas là dụng cụ V dùng để cất giấu ma túy, phân chia ma túy ra để sử dụng.
  • 01 ĐTDĐ Mobiistar màu đen có gắn sim số 039 9586852.

Tại bản Cáo trạng số 292/CT-VKS-HS ngày 01/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Lê Xuân V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho V chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm làm rõ khi có kết quả đề nghị xử lý sau.

Đối với Vì Tuấn L là người cho V đi nhờ xe, không liên quan đến hành vi phạm tội của V.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Xuân V từ 01 năm đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 đoạn ống hút nhựa chứa chất bột màu trắng, 01 bao thuốc lá Saigon bạc, 01 lưỡi dao lam, 01 hộp quẹt gas. Đối với 01 ĐTDĐ Mobiistar màu đen có gắn sim số 039 9586852 thu giữ của Lê Xuân V dùng để liên lạc gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân V nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo Lê Xuân V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Bị cáo thừa nhận bản thân nghiện ma túy, 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất bột màu trắng loại heroine có khối lượng 0,0309g được đựng trong 01 gói thuốc lá Saigon màu bạc để trong túi quần bên trái phía trước V đang mặc vào ngày 01/4/2023 là của Lê Xuân V cất giấu để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Bị cáo V đã có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, sau khi chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích thì V tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên lần phạm tội này thuộc trường hợp theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Lê Xuân V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước thống nhất quản lý độc quyền. Mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm, bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và tự nhận thức được điều này nhưng xuất phát từ động cơ, mục đích nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bằng hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra và cần phải có hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có hình phạt tương xứng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: không có. Với các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhưng có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ 01 đoạn ống hút nhựa chứa chất bột màu trắng, 01 bao thuốc lá Saigon bạc, 01 lưỡi dao lam, 01 hộp quẹt gas, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 ĐTDĐ Mobiistar màu đen có gắn sim số 039 9586852 là tài sản thuộc quyền sở hữu của Lê Xuân V dùng để liên lạc gia đình không liên quan đến việc phạm tội, căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Lê Xuân V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số vụ 723/23 bên ngoài gói có dấu vân tay ghi tên Lê Xuân V, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 01 bao thuốc lá Saigon bạc, 01 lưỡi dao lam, 01 hộp quẹt gas.

Trả lại cho bị cáo Lê Xuân V 01 ĐTDĐ Mobiistar màu đen có gắn sim số 039 9586852.

(Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 235/LNK-CSĐT-MT ngày 30/8/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2023).

- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Xuân V phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND H.Hóc Môn;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - CQĐT Công an H.HM;
  • - Chi cục THADS H.Hóc Môn;
  • - Nhà tạm giữ Công an H.HM;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP. HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lê Xuân V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger