TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 04/2024/HNGĐ-PT Ngày: 10-6-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng
Ông Nguyễn Hữu Thịnh
-Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Văn Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam về việc “Ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 23/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2024/QĐXXDS-PT ngày 10 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Châu N, sinh năm 1985; Địa chỉ: tổ D, khối D, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở hiện nay: số D T, tổ D, khối D, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Hữu H, sinh năm 1982; Địa chỉ: tổ D, khối D, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở hiện nay: số D T, tổ D, khối D, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Quá trình tố tụng nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Châu N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Trần Hữu H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 26/6/2008 tại UBND xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do lối sống thiếu chuẩn mực của ông H, ông thường xuyên nhậu nhẹt về rất khuya và có những lời nói hành động bạo lực đối với vợ con trong thời gian dài; vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn trong công việc quản lý và làm ăn chung, đỉnh điểm là ông H đã xúc phạm, đe doạ và sỉ nhục bà rất nhiều. Vì vậy bà và ông H không có tiếng nói chung, không thể giải quyết được mâu thuẫn trước đây và ngày càng bế tắc, vợ chồng tuy sống chung nhà nhưng không còn quan tâm tới nhau, đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Hữu H.
Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung là cháu Trần Hữu L, sinh ngày 08/01/2009 và cháu Trần Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 30/9/2014. Hiện nay các con đang sống với vợ chồng bà N, nay ly hôn bà N yêu cầu được nuôi hai con chung, bà N yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 15.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà có tài sản chung sau:
- Nhà và đất tại thửa đất số R09-50, tờ bản đồ số 00, diện tích 114,72m², địa chỉ: Khu dân cư P, thị trấn V, huyện Đ (nay là khối D, phường V, thị xã Đ), tỉnh Quảng Nam theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 367608 do UBND huyện Đ cấp ngày 31/10/2013 cho ông Trần Hữu H và bà Nguyễn Thị Châu N. Nhà xây năm 2013.
- Vợ chồng bà N đồng sở hữu 53% cổ phần tại Công ty cổ phần Đ; địa chỉ trụ sở: Khối G, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hữu H2, chức vụ: Giám đốc.
Nay ly hôn, bà N yêu cầu giải quyết tài sản chung theo pháp luật. Đối với nhà và đất, bà đề nghị được nhận và thối trả phần giá trị chênh lệch cho ông H. Đối với cổ phần tại Công ty cổ phần Đ tôi đề nghị chia đôi, mỗi người được nhận 26,5% cồ phần tại công ty.
Về nợ chung: Vợ chồng ông bà có nợ Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh Q1; địa chỉ: B P, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam số tiền nợ tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 1.646.423.000 đồng. Nay ly hôn tôi đề nghị giải quyết nợ chung theo pháp luật, đề nghị chia đôi số tiền nợ, tôi và ông H mỗi người chịu trách nhiệm trả một nửa số tiền nợ.
Tuy nhiên, tại phiên hòa giải tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn bà N xin rút một phần yêu cầu khởi kiện (bà N đã có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 05/12/2023), bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung giữa bà và ông H.
Quá trình tố tụng bị đơn ông Trần Hữu H trình bày:
Về tình hình hôn nhân: Ông H thống nhất với lời trình bày của bà N về thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ ông có những bất đồng trong công việc làm ăn với em trai ông nên dẫn đến lời qua tiếng lại; việc bà N cho rằng bản thân ông sống thiếu chuẩn mực với vợ con là không đúng, ông vẫn yêu thương vợ con và hết mực chăm lo cho vợ, con. Trước đây, có lần ông đi tiếp khách uống rượu bia về đôi khi có những lời lẽ không đúng, nhưng bản thân ông đã cố gắng khắc phục rồi. Do đó, vợ ông yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý vì mâu thuẫn vợ chồng ông chưa đến mức phải ly hôn, mọi việc đều có hướng giải quyết, nên ông Trần Hữu H không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông H thống nhất về con chung như đơn khởi kiện của bà N. Tuy nhiên, hiện nay các con đang sống với vợ chồng ông H, nếu bà N cương quyết ly hôn ông H yêu cầu được nuôi hai con chung, ông H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Với nội dung trên; Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 23/2024/HNGĐ-ST ngày 23/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Châu N về việc xin ly hôn ông Trần Hữu H.
- Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Châu N đối với ông Trần hữu H3 nên các vấn đề về con chung, tài sản chung, nợ chung, Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/02/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết yêu cầu ly hôn của bà.
Ngày 07/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 23/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam chấp nhận kháng nghị sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam giữ nguyên nội dung kháng nghị.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam giữ nguyên quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 23/2023/HNGĐ-ST ngày 23/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N.
Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Châu N được ly hôn ông Trần Hữu H.
Về con chung: Xử giao 2 con chung là cháu Trần Hữu L, sinh ngày 08/01/2009 và cháu Trần Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 30/9/2014 cho bà N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành, bà N không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghe người kháng cáo trình bày về nội dung kháng cáo. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa và nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/02/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N có đơn kháng cáo; ngày 07/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 23/02/2024. Xét thấy, kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn trong hạn luật định, nên Tòa án thụ lý để giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là có căn cứ, đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, thì thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Châu N và ông Trần Hữu H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 26/6/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong công việc quản lý tài chính và làm ăn chung với em chồng có những bất đồng, bên cạnh đó ông H sống thiếu chuẩn mực, thường xuyên nhậu nhẹt về rất khuya có những lời nói, hành động bạo lực đối với vợ, con, đỉnh điểm là ông H đã xúc phạm, đe doạ và xỉ nhục bà rất nhiều, mặc dù vợ chồng bà sống chung nhà nhưng bà và ông H đã ly thân từ tháng 02/2023 đến nay. Điều này đã được ông H thừa nhận tại biên bản hòa giải ngày 05/12/2023 (BL số 36) và bản H trình bày (BL số 29): “Vợ chồng ông có mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ ông có những bất đồng trong công việc làm ăn với em trai ông nên dẫn đến lời qua tiếng lại và ông cũng thừa nhận trước đây, nhiều lần ông đi tiếp khách uống rượu bia nên đôi khi có những lời lẽ không đúng, nhưng bản thân ông đã cố gắng khắc phục”. Như vậy, tình trạng hôn nhân của bà N và ông H là mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nhưng cấp sơ thẩm cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng và xử bác yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Châu N là không có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bà N cương quyết yêu cầu được ly hôn, ông H yêu cầu đoàn tụ nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là dựa trên cơ sở tự nguyện của đôi bên, không ai được quyền ép buộc, bà N cương quyết yêu cầu ly hôn, nên chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Châu N và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, sửa bản án sơ thẩm, căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N.
[2.2] Về con chung: Bà N và ông H đều xác nhận vợ chồng có 02 con chung: là cháu Trần Hữu L, sinh ngày 08/01/2009 và cháu Trần Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 30/9/2014, bà N và ông H đều có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ nên nguyện vọng nuôi con của bà N, ông H là chính đáng cần được xem xét, tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con. Tại cấp sơ thẩm, cháu Trần Hữu L và Trần Nguyễn Ngọc H1, đều đã trên 7 tuổi, các cháu có nguyện vọng được sống cùng với bà N. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông H cung cấp đơn của cháu Trần Hữu L xin được ở với ba, với nội dung: “Trước đây con có viết giấy xin ở với mẹ, nay con đổi ý có nguyện vọng xin ở với ba là ông Trần Hữu H”. Hội đồng xét xử xét thấy, xét về điều kiện nuôi con thì bà N và ông H đều có đủ điều kiện để nuôi con, nhưng để đảm bảo ổn định cuộc sống của các con và theo nguyện vọng của cháu L, cháu H1, đồng thời, xét thấy cháu Trần Nguyễn Ngọc H1 là con gái rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, nhất là sự thấu hiểu về tâm sinh lý của con gái khi đến tuổi trưởng thành, nên Hội đồng xét xử, giao cháu Trần Hữu L cho ông Trần Hữu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành; giao cháu Trần Nguyễn Ngọc H1 cho bà Nguyễn Thị Châu N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành.
Các bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập xem xét.
[2.3] Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà N là có căn cứ. Tuy nhiên, trong phần quyết định của bản án sơ thẩm, Tòa án không tuyên đình chỉ xét xử đối với việc rút yêu cầu của nguyên đơn và không xem xem phần án phí đối với yêu cầu chia tài sản chung là thiếu sót, nên Hội đồng xét xử sửa bản án về phần án phí và đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn về phần chia tài sản chung của vợ chồng.
[3] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Châu N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 28.992.000đ (Hai mươi tám triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng) bà N đã nộp theo biên lai số 0000415 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Châu N số tiền tạm ứng án phí 28.692.000 đồng (Hai mươi tám triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị Châu N được chấp nhận nên bà N không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 23/2023/HNGĐ-ST ngày 23/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Căn cứ Điều 28, Điều 38, 147, 148 và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu N.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Châu N được ly hôn ông Trần Hữu H.
- Về con chung: Giao cháu Trần Hữu L, sinh ngày 08/01/2009 cho ông Trần Hữu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi trưởng thành. Giao cháu Trần Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 30/9/2014 cho bà Nguyễn Thị Châu N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi trưởng thành. Các bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Châu N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 28.992.000đ (Hai mươi tám triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng) bà N đã nộp theo biên lai số 0000415 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Châu N số tiền tạm ứng án phí 28.692.000 đồng (Hai mươi tám triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Châu N không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà N 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án lí, lệ phí số 0014307 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10/6/2024).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 04/2024/HNGĐ-PT ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 04/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
